Trình bày báo cáo nội dung tiếp thu, giải trình của dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi), Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái cho biết: Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) được Quốc hội thống nhất xem xét thông qua theo quy trình tại 3 kỳ họp. Dự thảo Luật trình Quốc hội lần này về cơ bản đã tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 4. Nhiều quy định của dự thảo Luật đã được sửa đổi nhằm bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, một số vấn đề của dự thảo Luật còn nhiều ý kiến khác nhau cần được đánh giá, cân nhắc kỹ lưỡng và tiếp tục xin ý kiến Quốc hội, đảm bảo nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, tính khả thi như: Quy định về các trường hợp xác minh tài sản, thu nhập; cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; xử lý tài sản, thu nhập thực tế lớn hơn tài sản, thu nhập kê khai hoặc tài sản, thu nhập tăng thêm mà người kê khai không giải trình được một cách hợp lý nguồn gốc phần tài sản, thu nhập chênh lệch hoặc tăng thêm...
Sau khi tiếp thu, chỉnh lý trên cơ sở ý kiến của các ĐBQH, ý kiến thẩm tra của Ủy ban Tư pháp Quốc hội và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) gồm 125 điều (giảm 04 điều so với dự thảo Luật đã trình Quốc hội tháng 10/2017 và tăng thêm 25 điều so với Luật hiện hành). Nhiều vấn đề quan trọng đã được Chính phủ tiếp thu và giải trình, cụ thể: Mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật ra khu vực ngoài Nhà nước; Nội dung các quy định PCTN trong khu vực ngoài nhà nước (Chương VIII của dự thảo Luật); Đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (Điều 37 của dự thảo Luật); Cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập (Mục 1 Chương III của dự thảo Luật); Công khai bản kê khai tài sản, thu nhập (Điều 41 của dự thảo Luật); Minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập (Chương III dự thảo Luật); Xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán (Điều 67 của dự thảo Luật); Kiểm soát xung đột lợi ích (Điều 23 của dự thảo Luật);…

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga trình bày báo cáo thẩm tra
Tán thành việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật ra khu vực ngoài Nhà nước
Về mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật ra khu vực ngoài Nhà nước, Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết, do có sự tán thành của nhiều đại biểu Quốc hội, Chính phủ tiếp tục mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật ra khu vực ngoài Nhà nước, cụ thể là với tổ chức xã hội và doanh nghiệp khu vực ngoài Nhà nước.
Dự thảo Luật đã quy định việc áp dụng bắt buộc một số biện pháp phòng ngừa tham đối với tổ chức xã hội do Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, hoặc phê duyệt điều lệ và thường xuyên huy động các khoản đóng góp của nhân dân để hoạt động từ thiện; đối với công ty đại chúng, tổ chức tín dụng; trừ quỹ đầu tư.
Trong Báo cáo thẩm tra, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga cho biết, đa số ý kiến của Ủy ban Tư pháp tán thành với việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật ra khu vực ngoài Nhà nước. Bởi trên thực tế, tình hình tham nhũng khu vực ngoài Nhà nước đã và đang xuất hiện, ảnh hưởng bất lợi đến các hoạt động cạnh tranh lành mạnh cũng như môi trường đầu tư, kinh doanh, cản trở hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng khu vực Nhà nước.
Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật ra khu vực này cũng nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng tại Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2017 của Bộ Chính trị; bảo đảm đồng bộ với Bộ luật Hình sự năm 2015 và yêu cầu tại Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên.
Hơn nữa, hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, đồng thời đây là các chủ thể huy động vốn đóng góp của nhiều cổ đông hoặc thường xuyên huy động các khoản đóng góp của nhân dân để hoạt động từ thiện… Do đó, cần có sự kiểm soát chặt chẽ để tránh việc người có thẩm quyền lợi dụng chức vụ được giao hoặc thành lập doanh nghiệp “sân sau” để tham nhũng.
Mở rộng đối tượng kê khai tài sản, thu nhập
Về đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, dự thảo Luật sửa đổi theo hướng, bên cạnh các đối tượng kê khai theo Luật hiện hành, thì mở rộng đối với mọi cán bộ, công chức đều phải có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập lần đầu. "Việc mở rộng đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập đối với mọi cán bộ, công chức và với viên chức giữ chức vụ tương đương Phó Trưởng phòng trở lên khi lần đầu được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực công là một bước đi cần thiết để hình thành đồng bộ hệ thống dữ liệu quốc gia về bản kê khai, qua đó giúp kiểm soát có hiệu quả những biến động về tài sản, thu nhập của họ khi thuộc diện phải kê khai hằng năm" - Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái lý giải thêm.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga, đa số ý kiến Ủy ban Tư pháp tán thành với quy định này của dự thảo Luật vì cho rằng, so với nhóm đối tượng giữ chức vụ từ Giám đốc Sở trở lên hoặc những cán bộ, công chức, viên chức khác làm việc ở một số vị trí công tác trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao, cần phải kiểm soát chặt chẽ để phù hợp với thực tế và khả thi. Nhóm đối tượng cán bộ, công chức còn lại chỉ cần kiểm soát tài sản, thu nhập ở mức độ đơn giản hơn, với mục đích chủ yếu nhằm tạo cơ sở dữ liệu để so sánh, đối chiếu khi tài sản, thu nhập của họ có biến động từ 300 triệu đồng trở lên trong một năm hoặc khi có tố cáo, có dấu hiệu về việc kê khai không trung thực.
2 phương án kiểm soát tài sản, thu nhập
Về nội dung kiểm soát tài sản, thu nhập, Chính phủ trình Quốc hội 2 phương án:
Phương án 1: Giao cho Thanh tra Chính phủ tiến hành kiểm soát tài sản, thu nhập của người giữ chức vụ từ Giám đốc Sở và tương đương trở lên, công tác tại tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Cơ quan thanh tra hoặc đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương (nơi không có cơ quan thanh tra), thanh tra cấp tỉnh kiểm soát tài sản, thu nhập đối với những người có nghĩa vụ kê khai khác công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương.
Phương án 2: Đối với người có nghĩa vụ kê khai công tác tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương thì thực hiện như phương án 1. Đối với người có nghĩa vụ kê khai công tác tại Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì giao cho cơ quan Trung ương của các cơ quan, tổ chức này kiểm soát tài sản, thu nhập; đối với người có nghĩa vụ kê khai công tác tại Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ thì giao cho các cơ quan này kiểm soát; đối với người có nghĩa vụ kê khai là đại biểu Quốc hội chuyên trách thì giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội kiểm soát.
Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp cho biết, đa số ý kiến Ủy ban Tư pháp tán thành với phương án 2 vì đã tăng cường hơn tính tập trung, khắc phục một bước việc tổ chức quá nhiều đầu mối cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập như hiện nay, nhưng cũng không gây xáo trộn lớn về tổ chức, hoạt động của các cơ quan, đơn vị đang làm công tác này. Lựa chọn phương án này cũng hạn chế việc tăng áp lực công việc đối với cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập.
Tuy nhiên, một số ý kiến tán thành với phương án 1 của dự thảo Luật vì cho rằng, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế trong kiểm soát tài sản, thu nhập thời gian qua là do phân tán thẩm quyền, thiếu bộ máy, cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này. Đồng thời, việc giao cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị tự kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình cũng khó bảo đảm khách quan.
Do đó, việc dự thảo Luật quy định đơn vị chuyên trách kiểm soát tài sản, thu nhập và giao cho hệ thống cơ quan thanh tra thực hiện nhiệm vụ này là cần thiết và phù hợp. Phương án này sẽ tạo điều kiện để từng bước chuyên nghiệp hóa hệ thống cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập; giúp tập trung đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ, tập trung nhân lực, vật lực cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách, có trình độ chuyên môn đáp ứng nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, với quy định này thì việc tăng thêm tổ chức bộ máy, biên chế cho cơ quan thanh tra để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới được giao thêm là không tránh khỏi.
Xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán
Về xử lý hành vi tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán. Nhiều ý kiến tán thành với phương án 2 của Điều 73 dự thảo Luật trình Quốc hội tháng 10/2017, nhưng đề nghị chỉ chuyển các vụ việc có dấu hiệu tội phạm tham nhũng sang cơ quan điều tra, còn những vụ việc mà hành vi tham nhũng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì không cần phải chuyển sang cơ quan điều tra để phù hợp với Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán nhà nước và Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nhiều ý kiến đề nghị quy định cụ thể chế tài xử lý trách nhiệm của cơ quan thanh tra, kiểm toán trong trường hợp các cơ quan này khi tiến hành thanh tra, kiểm toán không phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng hoặc phát hiện nhưng chỉ kiến nghị xử lý hành chính, kỷ luật nhưng sau đó cơ quan có thẩm quyền lại phát hiện ra tội phạm tham nhũng. Một số ý kiến tán thành với phương án 1 của dự thảo Luật.
Về vấn đề này, Chính phủ có ý kiến tán thành với đa số ý kiến của ĐBQH, dự thảo Luật cơ bản giữ như quy định của Luật hiện hành, đồng thời quy định cơ quan thanh tra, kiểm toán chỉ chuyển vụ việc có dấu hiệu của tội phạm tham nhũng sang cơ quan điều tra cho phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán nhà nước. Bên cạnh đó, tiếp thu ý kiến của nhiều ĐBQH về việc quy định chế tài xử lý trách nhiệm của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, Chính phủ đề xuất phương án chỉnh lý:
“1. Trường hợp kết luận hành vi tham nhũng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán yêu cầu hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý kỷ luật người có hành vi tham nhũng.
2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền khi nhận được yêu cầu, kiến nghị thì phải xử lý kỷ luật đối với người có hành vi tham nhũng và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước đã có yêu cầu, kiến nghị biết.
3. Trường hợp phát hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng thì người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán phải chỉ đạo xác minh, làm rõ tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng; khi có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay nội dung, tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.
4. Trong những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước tiếp tục tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm toán về các nội dung khác theo kế hoạch tiến hành thanh tra, kế hoạch kiểm toán đã phê duyệt và ban hành Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán theo quy định của pháp luật về thanh tra, pháp luật về kiểm toán nhà nước.
5. Người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán, Trưởng đoàn thanh tra, Trưởng đoàn kiểm toán, thành viên đoàn thanh tra, thành viên đoàn kiểm toán và cá nhân, tổ chức có liên quan phải bị xem xét xử lý trách nhiệm trước pháp luật nếu sau khi kết thúc thanh tra, kiểm toán mà cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện có vụ việc tham nhũng xảy ra tại cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tiến hành thanh tra, kiểm toán về cùng một nội dung.”
Để có cơ sở cho việc tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo Luật, theo sự chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp đề nghị các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận một số vấn đề lớn về việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự án Luật ra khu vực ngoài Nhà nước; nội dung thanh tra, kiểm tra đối với khu vực ngoài Nhà nước (Điều 100 và Điều 103); cơ quan, đơn vị kiểm soát tài sản, thu nhập (Điều 32); đối tượng kê khai tài sản, thu nhập (Điều 37); xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc (Điều 49)…Các nội dung xoay quanh dự án Luật tiếp tục được thảo luận ở Tổ trước khi thảo luận tại Hội trường vào ngày 13/6/2018./.
Như Ý