Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
Quản trị công ty (QTCT) ngày nay là một chủ đề có tính thời sự trên toàn cầu, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 và gần đây là những vụ sụp đổ của một lọat các công ty như Enron, Woldcom, Palamat… và dẫn đến sự biến mất của công ty kiểm toán quốc tế Andersen. Bài viết này tìm hiểu vai trò của kiểm toán trong hệ thống QTCT nhằm đưa ra một số khuyến nghị đối với vấn đề QTCT của Việt Nam.
Luật Kiểm toán nhà nước (sau đây gọi là Luật KTNN) được thông qua tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Lần đầu tiên hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam được điều chỉnh bằng một văn bản Luật. Điều này cho thấy vai trò của KTNN ngày càng trở nên quan trọng trong công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế, tài chính của Nhà nước, là một bộ phận không thể thiếu trong một nhà nước pháp quyền
Luật Kiểm toán Nhà nước đánh dấu một bước phát triển mới của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) trong điều kiện phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nước ta với thế giới. Luật được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn 10 năm hoạt động của KTNN, phù hợp hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, quán triệt và thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển KTNN, tham khảo có chọn lọc tuyên bố LIMA về kiểm tra tài tài chính của tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI), thông lệ quốc tế và kinh nghiệm của các nước trên thế giới. Luật ra đời thể hiện quyết tâm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ trong việc lập lại kỷ cương quản lý tài chính ngân sách phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí nguồn lực công.
Việc áp dụng Hiệp định trị giá GATT /WTO đã tạo bước ngoặt cơ bản cho hệ thống xác định trị giá tính thuế hiện hành ở Việt Nam, một mặt vừa đảm bảo tính công bằng về nghĩa vụ thuế và thực hiện cam kết quốc tế, mặt khác tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thương mại. Tuy nhiên, trong thời gian qua có khá nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng chính sách này để gian lận thuế qua trị giá tính thuế.
Thị trường chứng khoán (CK) Việt Nam suốt từ tháng 3 năm 2007 đến nay liên tục chao đảo theo chiều hướng đi xuống và chưa có dấu hiệu phục hồi. Nguyên nhân tại đâu đang là câu hỏi rất lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước, cho các nhà đầu tư. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ vấn đề công khai thông tin trên thị trường chứng khoán.
Chế độ kế toán công ty chứng khoán được ban hành theo Quyết định số 99/2000/QĐ-BTC ngày 13/06/2000 của Bộ Tài chính quy định những vấn đề về kế toán đối với công ty chứng khoán. Tuy nhiên, từ khi ban hành cho đến nay đã trải qua khoảng thời gian tương đối dài với những thay đổi của thị trường chứng khoán, sự ra đời của Luật kế toán, 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam và các thông tư hướng dẫn thì việc cần thiết phải bổ sung, sửa đổi những nội dung mới là hoàn toàn cần thiết và cấp bách.
Khi phân tích báo cáo tài chính, các kiểm toán viên phải phân tích các nội dung khác nhau nhằm xem xét, đánh giá các mặt khác nhau trong hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Tuy vậy, thực tế hiện nay, nội dung phân tích báo cáo tài chính mà các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam sử dụng trong hoạt động kiểm toán vẫn còn nhiều bất cập, chưa phản ánh được tình hình tài chính và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cũng như chưa thể coi là căn cứ tin cậy, có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính.
Phương pháp kiểm toán nói chung và phương pháp kiểm toán hoạt động nói riêng là một trong những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam có rất ít bài viết và công trình nghiên cứu về phương pháp kiểm toán; hơn nữa, hầu như chưa có tài liệu đề cập đến định nghĩa về phương pháp kiểm toán, dẫn đến những cách hiểu khác nhau về phương pháp kiểm toán. Bài viết này tác giả luận bàn những vấn đề lý luận về phương pháp kiểm toán hoạt động (KTHĐ).
Năm 2005, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có bước phát triển theo chiều hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (8,4). Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng giá trị các ngành sản xuất, dịch vụ trong GDP chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp trong GDP giảm từ 23,2 năm 2001 xuống còn 20,7 năm 2005; tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 38,1 năm 2001 lên 40,8 năm 2005. Hoạt động xuất khẩu tăng trưởng khá, năm 2005 kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 20.Thu ngân sách vượt dự toán đề ra. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước tăng lên hàng năm. Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2005 dự kiến đạt hơn 320 ngàn tỷ đồng, tăng 16,4 so với thực hiện năm 2004 và bằng 38,2 GDP.
Tăng trưởng kinh tế là một trong những chỉ số kinh tế vĩ mô đặc biệt quan trọng và nó thường được đo bằng sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Vui lòng đăng nhập để tiếp tục xem nội dung.