Đăng ký nhận tin
Thứ Tư, ngày 16/9/2026

Cơ sở lý luận, thực tiễn Việt Nam và những luận cứ thuyết phục từ quản trị công minh bạch

Đang nạp audio...

(sav.gov.vn) - Thế giới đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới với những biến đổi sâu sắc dưới tác động của khoa học - công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và không gian mạng. Các hệ giá trị xã hội, tư tưởng và mô hình phát triển đang đứng trước những thách thức lớn, đồng thời trải qua quá trình tái định hình sâu sắc. Cùng với đó, các hoạt động chống phá về tư tưởng ngày càng tinh vi, phức tạp, tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội và niềm tin của nhân dân.

Kiểm toán nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Ảnh minh họa

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là kiên định và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn phải chủ động bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng phù hợp với thực tiễn mới - một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của đất nước.

Trên cơ sở những định hướng được xác lập tại Văn kiện Đại hội XIII, Văn kiện và Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục kế thừa, phát triển và làm sâu sắc hơn yêu cầu kiên định, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, phát huy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực chính của phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ thực tiễn đó, việc nhìn nhận, phân tích và khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ từ góc độ lý luận, mà còn từ thực tiễn quản trị quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hội nhập quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố niềm tin xã hội và nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.

Kiên định và phát triển - hai yêu cầu gắn bó với thực tiễn

Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - hệ thống lý luận khoa học, cách mạng và nhân văn, đã được vận dụng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam và trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Trong các Văn kiện Đại hội XIII, Đảng khẳng định yêu cầu kiên định nền tảng tư tưởng, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn. Trên nền tảng đó, Văn kiện và Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhấn mạnh vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong mô hình phát triển mới, đồng thời gắn yêu cầu phát triển đất nước với việc giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới.

Điểm nổi bật của nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ nằm ở tính nhất quán về nguyên lý, mà còn ở khả năng vận động, bổ sung và phát triển trong thực tiễn. Từ góc độ lý luận, “kiên định” và “phát triển” là hai mặt có quan hệ biện chứng. Kiên định là giữ vững những giá trị cốt lõi đã được thực tiễn kiểm nghiệm; phát triển là quá trình bổ sung, hoàn thiện lý luận trên cơ sở những vấn đề mới nảy sinh.

Nếu thiếu kiên định, nền tảng tư tưởng dễ bị dao động, lệch hướng; nhưng nếu không phát triển, lý luận có nguy cơ không đáp ứng được những yêu cầu mới của thực tiễn. Chính sự kết hợp giữa kiên định về nguyên tắc và linh hoạt trong vận dụng đã tạo nên sức sống của nền tảng tư tưởng của Đảng qua các giai đoạn cách mạng.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và không gian thông tin đa chiều, các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng được ngụy trang tinh vi, lợi dụng những vấn đề kinh tế, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước tình hình đó, việc kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu quan trọng để giữ vững định hướng phát triển của đất nước.

Kiên định ở đây không phải là bảo thủ, mà là giữ vững những nguyên lý cốt lõi, đồng thời vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện mới.

Cùng với đó, chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đặc biệt trên không gian mạng, cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên. Quan trọng hơn, việc kiên định nền tảng tư tưởng phải được thể hiện bằng những kết quả phát triển cụ thể. Khi các chủ trương, chính sách mang lại hiệu quả thiết thực, nâng cao đời sống nhân dân, đó là những kết quả thực tiễn góp phần củng cố niềm tin xã hội.

Trong kỷ nguyên số, sự xuất hiện của những yếu tố mới như kinh tế số, xã hội số, quản trị dữ liệu, trí tuệ nhân tạo cùng các thách thức toàn cầu đặt ra yêu cầu tiếp tục bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tinh thần của Đại hội XIV cho thấy, phát triển lý luận không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ chủ động, nhằm bảo đảm nền tảng tư tưởng có khả năng tiếp tục dẫn dắt thực tiễn trong điều kiện phát triển mới. Trên cơ sở đó, việc phát triển lý luận cần gắn với những vấn đề mới của thực tiễn; làm rõ hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững; giữa hội nhập quốc tế với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn phát triển - cơ sở để củng cố niềm tin

Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây tiếp tục cung cấp những luận cứ quan trọng cho quá trình tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận.

Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2025, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024.

Những kết quả về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh và nâng cao đời sống nhân dân là những chỉ dấu quan trọng để đánh giá quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách; đồng thời cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho việc tiếp tục tổng kết, bổ sung và phát triển lý luận.

Có thể khẳng định, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là yêu cầu về mặt lý luận, mà còn được củng cố thông qua thực tiễn phát triển và hiệu quả quản trị quốc gia. Chính những kết quả cụ thể trong quản trị, đặc biệt là việc nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, sẽ góp phần tạo dựng niềm tin của nhân dân và cung cấp những luận cứ thực tiễn cho quá trình bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.

Kiểm toán nhà nước góp phần củng cố minh bạch và trách nhiệm giải trình

Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Kiểm toán nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.

Theo quy định về chức năng, nhiệm vụ, KTNN có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN góp phần phát hiện, kiến nghị xử lý và phòng ngừa sai phạm, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của Nhà nước, đồng thời góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài chính công.

Theo các báo cáo kiểm toán những năm gần đây, KTNN hằng năm kiến nghị xử lý tài chính ở quy mô lớn, qua đó góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Những kết quả này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà còn góp phần tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị công.

Từ góc độ này, hoạt động kiểm toán có thể được nhìn nhận như một trong những phương thức kết nối giữa yêu cầu quản trị với thực tiễn quản lý, sử dụng nguồn lực công. Kết quả kiểm toán cung cấp thông tin phục vụ quản lý, đồng thời chỉ ra những bất cập, rủi ro và hạn chế cần được khắc phục trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện.

Đặc biệt, giá trị của kiểm toán không chỉ nằm ở số kiến nghị xử lý tài chính, mà còn ở những kiến nghị sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực quản lý và phòng ngừa những sai sót có thể lặp lại. Vụ Tổng hợp của KTNN hiện có chức năng tổng hợp kết quả kiểm toán, kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán và tham mưu các báo cáo liên quan đến chính sách, chiến lược và những vấn đề kinh tế, tài chính vĩ mô, tài chính công, ngân sách nhà nước, đầu tư công.

Những thông tin, dữ liệu và kiến nghị đó, nếu tiếp tục được tổng hợp, phân tích và khái quát, sẽ trở thành nguồn thông tin thực tiễn có giá trị cho quá trình hoàn thiện quản trị quốc gia.

Hội nhập quốc tế và yêu cầu giữ vững bản lĩnh của đội ngũ kiểm toán

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hoạt động kiểm toán không chỉ dừng lại ở phạm vi trong nước mà còn gắn với việc tiếp cận, tham gia và vận dụng các chuẩn mực, thông lệ quốc tế.

Điều này đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong ngành kiểm toán, đặc biệt tại các đơn vị làm công tác hợp tác quốc tế, phải vừa nâng cao năng lực chuyên môn, vừa giữ vững bản lĩnh chính trị và định hướng tư tưởng.

Thực tiễn cho thấy, tại các chi bộ thực hiện nhiệm vụ đối ngoại và hợp tác quốc tế, việc gắn công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chuyên môn góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần trách nhiệm và khả năng “tiếp thu có chọn lọc” của cán bộ, đảng viên trong môi trường làm việc đa dạng, nhiều chiều.

Trong đó, Chi bộ Vụ Hợp tác quốc tế đã phát huy vai trò hạt nhân chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo đối với hoạt động chuyên môn, đồng thời góp phần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng của cán bộ, đảng viên trong quá trình hội nhập.

Qua đó có thể thấy, trong điều kiện hội nhập sâu rộng, việc nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn gắn với củng cố bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán, mà còn tạo khả năng chủ động trước những thông tin và quan điểm khác nhau trong môi trường hội nhập.

Sáu yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong điều kiện mới.

Việc phát triển lý luận cần bám sát những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn như kinh tế số, xã hội số, quản trị quốc gia hiện đại, đồng thời làm rõ hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững. Đây là cơ sở để nền tảng tư tưởng của Đảng tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt trong bối cảnh thế giới biến động nhanh.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị theo hướng hiện đại, linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Cần tận dụng hiệu quả các nền tảng số, mạng xã hội và công nghệ truyền thông mới để lan tỏa thông tin chính thống, đồng thời nâng cao khả năng nhận diện và “miễn dịch” trước thông tin sai lệch, xuyên tạc. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng cần chuyển từ bị động sang chủ động định hướng dư luận xã hội.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực tư duy lý luận và khả năng thích ứng với môi trường thông tin đa chiều.

Trong đó, cần đặc biệt chú trọng nâng cao kỹ năng phân tích, phản biện và xử lý thông tin trên không gian mạng, kết hợp giữa “xây” và “chống”, giữa bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng một cách chủ động, hiệu quả.

Thứ tư, tăng cường gắn kết giữa lý luận và thực tiễn thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, trong đó có vai trò của Kiểm toán nhà nước.

Thông qua kiểm toán các lĩnh vực trọng yếu như tài chính công, an sinh xã hội, môi trường và phát triển bền vững, KTNN không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, mà còn cung cấp những bằng chứng thực tiễn, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những kết quả cụ thể.

Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lý luận chính trị, quản trị công và kiểm toán.

Chủ động tham gia các diễn đàn đa phương để chia sẻ kinh nghiệm và lan tỏa quan điểm của Việt Nam. Việc chủ động hội nhập không chỉ giúp tiếp thu kinh nghiệm và tri thức của nhân loại, mà còn tạo điều kiện để Việt Nam chia sẻ thực tiễn phát triển, qua đó góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển đất nước.

Thứ sáu, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn.

Việc ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu, tuyên truyền và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông, mà còn hỗ trợ phân tích, nhận diện sớm các xu hướng thông tin và những vấn đề phát sinh trên không gian mạng, từ đó có giải pháp phù hợp.

Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình phát triển mới; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế dữ liệu, kinh tế số và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia bằng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

Kết luận

Kiên định, bảo vệ, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước.

Từ nền tảng được xác lập tại Đại hội XIII, Đại hội XIV tiếp tục kế thừa và phát triển, làm sâu sắc hơn yêu cầu đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lãnh đạo, phát huy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó mở ra những định hướng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Trong kỷ nguyên mới, sức sống của nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được thể hiện ở phương diện lý luận, mà còn được kiểm chứng qua thực tiễn phát triển, hiệu quả quản trị quốc gia và niềm tin của nhân dân.

Từ góc độ đó, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực công không chỉ là yêu cầu của quản trị quốc gia hiện đại, mà còn là một phương diện quan trọng để kết nối chủ trương với thực tiễn. Với chức năng của mình, Kiểm toán nhà nước có thể tiếp tục đóng góp vào quá trình này thông qua việc cung cấp thông tin kiểm toán, nhận diện rủi ro, kiến nghị xử lý và hoàn thiện cơ chế, chính sách.

Gắn bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng với tổng kết thực tiễn, nâng cao chất lượng quản trị và sử dụng hiệu quả nguồn lực công vì thế là một hướng tiếp cận có ý nghĩa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Lượt xem: 6