Đăng ký nhận tin
Thứ Năm, ngày 22/10/2026

Kết quả kiểm toán ngân sách địa phương, Báo cáo quyết toán sách địa phương năm 2025 của tỉnh Vĩnh Long

Đang nạp audio...

(sav.gov.vn) – Thực hiện Kế hoạch kiểm toán năm 2026, Kiểm toán nhà nước (KTNN) đã tổ chức kiểm toán ngân sách địa phương, Báo cáo quyết toán sách địa phương năm 2025; chuyên đề công tác thanh tra, kiểm tra thuế; miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế; hoàn thuế giá trị gia tăng giai đoạn 2023-2025 của Thuế tỉnh Vĩnh Long.

Toàn cảnh tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: chinhphu.vn

Trên cơ sở Báo cáo kiểm toán đã phát hành, KTNN công khai một số nội dung, phát hiện và kiến nghị trọng yếu của cuộc kiểm toán như sau:

I. Đánh giá chung

Năm 2025, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời, linh hoạt, có trọng tâm, trọng điểm của Ủy ban nhân dân (UBND), tỉnh Vĩnh Long đã nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức, nhất là trong bối cảnh hợp nhất ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long. Tình hình kinh tế - xã hội cơ bản ổn định; công tác quản lý, sử dụng tài chính công cơ bản tuân thủ quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương.

II. Một số hạn chế, tồn tại chủ yếu

1. Tổng số phát hiện kiến nghị xử lý 3.410.156 triệu đồng, gồm:

- Kiến nghị xử lý tài chính 1.582.631 triệu đồng, gồm: (1) Kiến nghị tăng thu ngân sách: 92.391 triệu đồng; (2) Kiến nghị thu hồi, giảm chi ngân sách: 1.490.240 triệu đồng.

- Kiến nghị khác 1.827.525 triệu đồng.

2. Công tác quản lý thu nội địa

(1) Công tác quản lý kê khai thuế có dấu hiệu mua, bán hóa đơn và trốn thuế, cụ thể: qua phân tích dữ liệu hóa đơn điện tử giai đoạn 2024-2025 của các doanh nghiệp có trạng thái bỏ địa chỉ kinh doanh (TT06), phát hiện 21 doanh nghiệp (F0) lập hóa đơn điện tử bán hàng hóa cho 248 doanh nghiệp (F1). Các doanh nghiệp F0 có đặc điểm thành lập và hoạt động trong thời gian ngắn, vốn điều lệ góp bằng tiền mặt, không trực tiếp sản xuất mà chủ yếu hoạt động kinh doanh thương mại. Đáng chú ý, giá trị hàng hóa bán ra của các doanh nghiệp này cao hơn giá trị hàng hóa mua vào, với tổng giá trị chênh lệch là 9.010,54 tỷ đồng. Qua phân tích dữ liệu, phần lớn giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn bán ra không có hàng hóa thực tế đi kèm, có dấu hiệu mua, bán hóa đơn trái phép và trốn thuế; Đối với 248 doanh nghiệp F1 sử dụng hóa đơn đầu vào của 21 doanh nghiệp F0 nêu trên, qua rà soát đến ngày 03/7/2026, có 01 doanh nghiệp đang hoạt động đã điều chỉnh giảm kê khai đối với hóa đơn mua vào của các doanh nghiệp F0. Việc 21 doanh nghiệp F0 xuất hóa đơn với giá trị hàng hóa không có hàng hóa thực tế đi kèm là 9.010,54 tỷ đồng trong tổng giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn là 9.035,48 tỷ đồng cho thấy các doanh nghiệp F1 sử dụng hóa đơn đầu vào của các doanh nghiệp này có dấu hiệu sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào, làm giảm số thuế phải nộp và tăng số thuế được khấu trừ, được hoàn; Theo số liệu ước tính, giá trị thuế GTGT đầu vào tương ứng với số hóa đơn có dấu hiệu không hợp pháp không được khấu trừ là 901,054 tỷ đồng. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), trường hợp các doanh nghiệp F1 có phát sinh thu nhập chịu thuế, không thuộc đối tượng được miễn, giảm thuế và toàn bộ giá trị hóa đơn nêu trên được hạch toán vào chi phí được trừ, số thuế TNDN phải nộp ngân sách nhà nước có thể bị giảm khoảng 1.802,11 tỷ đồng. Trên cơ sở các dấu hiệu vi phạm được phát hiện, Kiểm toán nhà nước đã xem xét, quyết định chuyển thông tin về hành vi mua, bán hóa đơn và trốn thuế đến Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

(2) Công tác thu hồi, quản lý đất sau thu hồi: (i) UBND phường Tân Hạnh (trước đây là UBND thành phố Vĩnh Long) chưa phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tiếp nhận, quản lý khu đất có diện tích 13.976,3 m² thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 11 tại Phường 8, thành phố Vĩnh Long (cũ) sau khi có quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh Vĩnh Long, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định tại Điều 15, Điều 87 và Điều 239 Luật Đất đai năm 2024. Công ty Cổ phần Cơ khí Cửu Long không chấp hành quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh, chưa di dời tài sản, chưa bàn giao đất cho Nhà nước mà tiếp tục quản lý, sử dụng khu đất, chưa đúng quy định tại khoản 5 Điều 81 Luật Đất đai năm 2024. Trong thời gian Công ty tiếp tục sử dụng khu đất, cơ quan Thuế vẫn ban hành thông báo thu tiền thuê đất; (ii) Việc xác định nghĩa vụ tài chính đối với quỹ đất dành để phát triển nhà ở xã hội: Tại dự án Chỉnh trang Khu dân cư đô thị Phú Khương do Công ty TNHH Đầu tư Bến Tre làm chủ đầu tư (được UBND tỉnh Bến Tre chấp thuận đầu tư tại Quyết định số 1313/QĐ-UBND ngày 20/6/2019), việc xác định số tiền phải nộp tương đương giá trị 20% tổng diện tích đất ở thay cho việc bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội chưa bảo đảm cơ sở pháp lý về thời điểm xác định giá đất. Do đó, việc xác định số tiền sử dụng đất phải nộp tương đương giá trị 20% tổng diện tích đất ở thuộc dự án chưa bảo đảm đúng quy định tại Nghị định số 49/2021/NĐ-CP.

(3) Công tác quản lý thu liên quan đến tài nguyên, khoáng sản: UBND tỉnh Vĩnh Long chậm ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên; đồng thời, một số doanh nghiệp kê khai giá tính thuế tài nguyên chưa đúng Bảng giá tính thuế tài nguyên do UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành.

(4) Việc thực hiện chính sách miễn, giảm, gia hạn nộp thuế: Cơ quan thuế xác định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) chưa đúng điều kiện về lĩnh vực, ngành, nghề được ưu đãi; việc kê khai giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT) ghi tên hàng hóa, dịch vụ chưa cụ thể, chưa đủ cơ sở xác định hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng được giảm thuế; thực hiện gia hạn nộp thuế đối với các trường hợp không thuộc đối tượng được gia hạn theo quy định.

(5) Bất cập trong chính sách hoàn thuế GTGT: Quy định chuyển tiếp tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 359/2025/NĐ-CP chưa bao quát đầy đủ các trường hợp thuế GTGT đầu vào đã được cơ quan thuế kiểm tra, kiểm soát nhưng chưa được hoàn hoặc đã có thông báo không hoàn trước ngày 01/01/2026 theo quy định trước đây. Điều này dẫn đến cách hiểu, áp dụng quy định chuyển tiếp chưa thống nhất đối với các hồ sơ có cùng bản chất giao dịch kinh tế, phát sinh trong cùng thời kỳ áp dụng chính sách nhưng được xử lý khác nhau tùy theo thời điểm nộp hồ sơ, thời điểm giải quyết hoặc hình thức xử lý hồ sơ trước khi chính sách thay đổi. Bất cập này có thể ảnh hưởng đến tính thống nhất, công bằng trong thực hiện chính sách hoàn thuế GTGT giữa các người nộp thuế có cùng bản chất giao dịch.

3. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

(1) Địa phương chưa cân đối, bố trí đầy đủ vốn ngân sách địa phương (NSĐP) đối ứng với vốn ngân sách trung ương (NSTW) để thực hiện các dự án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Quyết định số 1162/QĐ-TTg ngày 08/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ và các nội dung báo cáo, cam kết của địa phương với Thủ tướng Chính phủ về việc bố trí vốn NSĐP đối ứng cho các dự án.

(2) Tỷ lệ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 của địa phương đạt 74,06%, chưa đạt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn theo yêu cầu tại điểm a khoản 1 Mục II Nghị quyết số 226/NQ-CP ngày 05/8/2025 của Chính phủ và Công điện số 237/CĐ-TTg ngày 06/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ.

(3) Địa phương chưa phân bổ đủ vốn để hoàn trả vốn ứng trước kế hoạch; số vốn đã bố trí là 125.711 triệu đồng/211.700 triệu đồng, đạt 59,38%, chưa bảo đảm yêu cầu hoàn trả vốn ứng trước theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 4 Nghị quyết số 973/2020/UBTVQH14 ngày 08/7/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm a khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1508/QĐ-TTg ngày 04/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ.

(4) Công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư công: (i) Địa phương bố trí và sử dụng nguồn vốn dự phòng NSTW năm 2023 cho dự án Kè chống sạt lở bờ sông Giao Hòa, xã Giao Long, huyện Châu Thành chưa phù hợp quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 2 Quyết định số 1162/QĐ-TTg ngày 08/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ, Công văn số 9849/BKHĐT-KTNN ngày 23/11/2023 của Bộ KH&ĐT số tiền 8.133,7 triệu đồng; (ii) Bố trí nguồn vốn đầu tư công cho dự án Đường từ Quốc lộ 53 - Khu công nghiệp Hòa Phú (Đường tỉnh 909B) - Đường Phú Lộc Bầu Gốc - Quốc lộ 1 tỉnh Vĩnh Long vượt tổng mức đầu tư được duyệt, chưa đảm bảo nguyên tắc theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15 (cụ thể: dự án có tổng mức đầu tư được duyệt là 1.492.935.169.749 đồng, trong đó: nguồn NSTW là 1.000.000.000 đồng; nguồn NSĐP là 492.935.169.749 đồng, tuy nhiên tổng số vốn đã bố trí đến ngày 30/4/2026 là 1.625.485.000.000 đồng (nguồn NSTW là 953.863.000.000 đồng; nguồn NSĐP là 671.622.000.000 đồng), vượt tổng mức đầu tư được duyệt số tiền là 132.549.830.251 đồng).

(5) Một số gói thầu thuộc các dự án kéo dài thời gian thực hiện nhưng chưa được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định điều chỉnh thời gian thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP; Một số gói thầu thực hiện chậm tiến độ so với hợp đồng đã ký nhưng chủ đầu tư chưa báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc gia hạn thời gian thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 39 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP.

(6) Đến ngày 31/12/2025, tổng số nợ đọng XDCB của địa phương đối với các dự án, công trình đã hết thời gian thực hiện là 47.755 triệu đồng, bao gồm: các dự án đã được phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành nhưng chưa tất toán tài khoản; các dự án, công trình đã nghiệm thu hoàn thành nhưng chưa lập báo cáo quyết toán hoặc chưa được phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành. Các dự án, công trình nêu trên chưa được chuyển tiếp vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn tiếp theo.

4. Quản lý chi thường xuyên và điều hành ngân sách

(1) Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Long xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành 131 quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cho từng trường, trung tâm trực thuộc Sở, số tiền 6.744,8 triệu đồng. Tuy nhiên, các quyết định theo các nhóm trường là tương đồng, chỉ thay đổi tên đơn vị trực thuộc, có dấu hiệu gây lãng phí NSNN theo quy định tại khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ.

(2) Ngân sách cấp tỉnh, cấp xã chưa nộp trả ngân sách cấp trên kinh phí bổ sung có mục tiêu đã hết nhiệm vụ chi, chưa đúng theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 9, khoản 3 Điều 18 Thông tư số 342/2016/TT-BTC, số tiền 139.977 triệu đồng.

(3) Công tác quản lý thu giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt còn một số hạn chế: (i) Công tác phối hợp với cơ quan Thuế và UBND các xã, phường chưa chặt chẽ, dẫn đến việc rà soát, xác định đối tượng thu chưa đầy đủ, số hộ kinh doanh được lập bộ thu giá dịch vụ còn thấp so với số hộ thuộc diện phải thu; (ii) Một số xã quyết toán kinh phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt hàng tháng theo hợp đồng, chưa tổ chức kiểm đếm, cân nghiệm thu khối lượng rác hàng ngày, hàng tháng thực tế tại các trạm cân của nhà máy xử lý rác; (iii) UBND cấp xã chưa thường xuyên kiểm tra việc tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt (việc vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đến điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ sở xử lý chất thải) theo quy định tại khoản 7 Điều 77 Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14; (iv) Đơn vị thực hiện thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt chưa phối hợp chặt chẽ với UBND cấp xã, cộng đồng dân cư, đại diện khu dân cư trong việc xác định thời gian, địa điểm, tần suất và tuyến thu gom chất thải rắn sinh hoạt và công bố rộng rãi theo khoản 3 Điều 77 Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.

(4) Việc xác định 10% tiết kiệm chi thường xuyên 07 tháng cuối năm theo Nghị quyết số 173/NQ-CP chưa đầy đủ, qua rà soát phát sinh tăng so với số địa phương đã nộp NSTW 22.614 triệu đồng.

(5) Việc quản lý, sử dụng kinh phí để thực hiện chính sách, chế độ theo quy định tại Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP: (i) Các đơn vị chưa thực hiện ban hành tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý, chưa đúng theo Điều 17 Nghị định số 178/2024/NĐ-CP; các đơn vị chưa thực hiện rà soát tổng thể chất lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý để xác định đối tượng phải nghỉ việc do sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 16 Điều 1 Nghị định số 67/2025/NĐ-CP; (ii) Kiểm toán chọn mẫu hồ sơ chi trả chính sách, chế độ theo quy định tại Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP tại các đơn vị được kiểm toán, cho thấy còn trường hợp xác định sai mức trợ cấp được hưởng. Ngoài ra, có 27 trường hợp chưa phù hợp về đối tượng theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Mục II, 20 trường hợp chưa phù hợp về đối tượng theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Mục II Công văn số 1814/BNV-TCBC.

5. Công tác kế toán, quyết toán ngân sách

(1) Sở Tài chính lập, trình cấp có thẩm quyền phương án sử dụng số tăng thu so với dự toán và dự toán chi ngân sách cấp tỉnh còn lại năm 2025 chậm so với thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 73/2026/NĐ-CP.

(2) Chi chuyển nguồn ngân sách cấp tỉnh, cấp xã chưa đúng theo khoản 1 Điều 31 Nghị định số 73/2026/NĐ-CP, phải điều chỉnh hạch toán tăng, giảm chi chuyển nguồn tổng số tiền 829.183 triệu đồng.

6. Tình hình tạm ứng ngân sách

(1) Địa phương còn đang theo dõi, chưa xử lý nhiều khoản tạm ứng ngân sách kéo dài qua nhiều năm, không đúng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 56 Luật NSNN 2015, đã được KTNN kiến nghị xử lý tại các báo cáo kiểm toán trước đây. Đến thời điểm kiểm toán (tháng 07/2026), tổng số nợ tạm ứng là 298.696 triệu đồng, gồm: Tạm ứng từ NSTW 1.100 triệu đồng, tạm ứng từ ngân sách cấp tỉnh 297.596 triệu đồng.

(2) Sở Tài chính chưa xác định số dư tạm ứng ngoài ngân sách của 26 đơn vị hành chính cấp huyện để bàn giao về xã trung tâm tiếp tục theo dõi, xử lý theo ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 7857/UBND-TH ngày 11/12/2025 về việc thực hiện chuyển đổi dữ liệu (trên TABMIS) của các đơn vị hành chính cấp huyện trước sắp xếp.

7. Trích lập, quản lý, sử dụng nguồn cải cách tiền lương (CCTL)

(1) Kết quả kiểm toán xác định địa phương còn phải nộp trả NSTW do cấp bổ sung thừa nguồn CCTL là 921.034 triệu đồng.

(2) Việc trích lập, quản lý và sử dụng nguồn CCTL còn một số hạn chế: Tỉnh cấp kinh phí thực hiện nhu cầu chi từ nguồn CCTL (quỹ tiền thưởng theo Nghị định số 73/2024/NĐ-CP, thực hiện nghỉ chế độ theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP,…) chưa xem xét giảm trừ nguồn CCTL còn tồn tại các đơn vị, xã chưa đúng theo quy định tại Điều 3, Điều 4 Thông tư số 62/2024/TT-BTC, dẫn đến cấp thừa nguồn CCTL 173.473 triệu đồng; chưa thu hồi kinh phí tiết kiệm chi NSNN hỗ trợ hoạt động thường xuyên (chi tiền lương và chi hoạt động theo quy định của pháp luật) do tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp năm 2025 để bổ sung nguồn thực hiện CCTL theo Mục 6 Nghị quyết số 31/2026/QH16, với số tiền 13.990 triệu đồng; một số đơn vị sử dụng nguồn CCTL để chi tiền lương thường xuyên chưa đúng quy định, phải bố trí hoàn trả nguồn CCTL theo quy định.

8. Việc xử lý tài chính, ngân sách khi sáp nhập đơn vị hành chính

Qua kiểm toán cho thấy còn một số hạn chế: (i) Các đơn vị không lập biên bản bàn giao, tiếp nhận nguồn tài chính hoặc lập biên bản nhưng thiếu các nội dung, số liệu chưa khớp đúng với KBNN, chưa thực hiện kiểm kê tài chính và chưa lập biên bản kiểm kê tài chính theo hướng dẫn tại Công văn số 4205/BTC-NSNN của Bộ Tài chính; (ii) Chưa phối hợp rà soát, xử lý dứt điểm các kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm toán; (iii) Biên bản bàn giao nguồn tài chính của một số xã, phường chỉ thể hiện tổng số thu, tổng số chi và số tồn quỹ NSNN 06 tháng đầu năm 2025, số dư của các tài khoản tiền gửi còn tồn đến ngày 30/06/2025, không thể hiện chi tiết số liệu của từng nguồn kinh phí, chưa đúng theo quy định tại điểm 3 mục I Công văn số 4205/BTC-NSNN....

Lượt xem: 51