Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
(sav.gov.vn) - Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm; đồng thời đào tạo, bồi dưỡng ít nhất 10.000 nhân lực AI trình độ cao, chuyên sâu.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026 phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
Chương trình đặt mục tiêu xây dựng đội ngũ nhân lực AI có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược; qua đó nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số.
Cùng với phát triển nhân lực chuyên sâu, Chương trình hướng tới đưa năng lực sử dụng và ứng dụng AI trở thành một trong những năng lực thiết yếu của người học, người lao động, cán bộ quản lý và quản trị.
Phấn đấu 50.000 nhân lực có năng lực ứng dụng AI trong các ngành trọng điểm
Một trong những mục tiêu trọng tâm đến năm 2030 là phổ cập kiến thức, kỹ năng và năng lực sử dụng AI an toàn, hiệu quả, có trách nhiệm cho người học, người lao động và đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị.
Theo đó, ít nhất 80% học sinh phổ thông, học sinh dự bị đại học được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về AI phù hợp với lứa tuổi, gắn với phát triển tư duy số, tư duy tính toán, đạo đức và năng lực sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm.
Đối với giáo dục đại học, Chương trình đặt mục tiêu 100% người học được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản về AI, đạo đức và an toàn dữ liệu; trong giáo dục nghề nghiệp, tỷ lệ này phấn đấu đạt ít nhất 80%. Người học được hình thành năng lực sử dụng, ứng dụng AI trong học tập, nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp một cách an toàn, hiệu quả.
Trong khu vực công, ít nhất 90% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các đơn vị sự nghiệp công lập được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng AI. Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, mục tiêu là 100%.
Đáng chú ý, tối thiểu 100.000 giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục sẽ được bồi dưỡng chuyên sâu, có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ và lan tỏa năng lực sử dụng, ứng dụng AI. Bên cạnh đó, ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kỹ năng sử dụng AI cơ bản.
Chương trình phấn đấu đào tạo mới, đào tạo chuyển đổi và bồi dưỡng nâng cao tối thiểu 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Đồng thời, ít nhất 10.000 nhân lực trình độ cao về AI, gồm các nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia, sẽ được đào tạo, bồi dưỡng. Trong số này có ít nhất 1.500 chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ AI trọng điểm.
Hình thành hệ thống giáo dục tích hợp AI, hướng tới nhóm dẫn đầu khu vực
Một mục tiêu quan trọng khác của Chương trình là hình thành hệ thống giáo dục tích hợp AI ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo.
Đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục đại học phải triển khai quy định về sử dụng AI trong đào tạo, nghiên cứu và đánh giá. Ít nhất 80% chương trình đào tạo cấp văn bằng của giáo dục nghề nghiệp tích hợp chuẩn đầu ra và nội dung về năng lực ứng dụng AI phù hợp với từng ngành, nghề.
Cùng với đó, Việt Nam sẽ hình thành ít nhất 10 trung tâm đào tạo và nghiên cứu AI tiên tiến chuyên sâu, trong đó có 5-7 trung tâm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, từng bước tiệm cận trình độ quốc tế. Ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học được phát triển thành các đầu mối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo về AI.
Các cơ sở này sẽ triển khai những chương trình đào tạo chuyên sâu về AI, chương trình tích hợp AI theo ngành, lĩnh vực (AI+X) và chương trình ứng dụng AI (X+AI), góp phần gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế.
Định hướng đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu hình thành hệ sinh thái nhân lực AI hiện đại, bền vững, có khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và hội nhập quốc tế. Năng lực sử dụng, ứng dụng AI trở thành năng lực phổ biến của lực lượng lao động; AI trở thành công nghệ nền tảng thúc đẩy học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh và quản trị quốc gia.
Việt Nam hướng tới xây dựng đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, giảng viên và nhà quản lý có trình độ cao, đủ năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ và dẫn dắt công nghệ AI, có khả năng cạnh tranh trong mạng lưới phát triển AI của khu vực và quốc tế.
Mục tiêu đến năm 2035 là đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực phát triển nhân lực AI thuộc nhóm hàng đầu trong khu vực, với hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và quản trị AI an toàn, tin cậy và có trách nhiệm.
7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để thực hiện các mục tiêu trên, Chương trình xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp gồm: xây dựng, hoàn thiện thể chế về chuẩn năng lực và hệ thống quản trị phát triển nhân lực AI; phát triển đội ngũ nhà giáo, chuyên gia và mạng lưới hỗ trợ đào tạo AI; phát triển nhân lực AI trình độ cao, chuyên sâu và năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; phổ cập, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng AI; gắn đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động; phát triển hạ tầng, dữ liệu và môi trường thực hành dùng chung; truyền thông, nâng cao nhận thức và phổ cập kỹ năng AI.
Trong đó, Chương trình yêu cầu xây dựng Khung năng lực trí tuệ nhân tạo quốc gia, tham chiếu các khung năng lực và chuẩn mực quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đây sẽ là cơ sở để xây dựng chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, chuẩn nghề nghiệp, đánh giá và chứng nhận năng lực AI.
Chương trình cũng đặt mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu về nhân lực AI, phục vụ theo dõi, đánh giá và dự báo cung - cầu nhân lực, kỹ năng; đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp liên bộ, liên ngành nhằm tăng cường sự gắn kết giữa giáo dục, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và thị trường lao động.
Đối với người lao động, các chương trình đào tạo lại và nâng cao kỹ năng AI sẽ được triển khai phù hợp với vị trí việc làm và nhu cầu của từng ngành, lĩnh vực, tập trung vào sử dụng công cụ AI, phân tích dữ liệu, tự động hóa quy trình, phối hợp người - máy, bảo vệ dữ liệu và thích ứng với thay đổi nghề nghiệp.
Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tổ chức xã hội nghề nghiệp sẽ được hỗ trợ tiếp cận chương trình bồi dưỡng AI, công cụ đánh giá năng lực, chuyên gia tư vấn và nguồn học liệu dùng chung, qua đó nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.
Chương trình đồng thời ưu tiên hỗ trợ người lao động có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa, người học ở vùng khó khăn, phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ, người khuyết tật và các nhóm cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng với năng lực AI.
Việc triển khai Chương trình quốc gia phát triển nhân lực AI được kỳ vọng tạo nền tảng nhân lực vững chắc cho các ngành công nghệ chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam trong kỷ nguyên AI.
Lượt xem: 40