Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
Chính phủ ban hành Nghị định số 333/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng.
Nghị định gồm 6 Chương, 32 Điều, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động bảo vệ an ninh mạng tại Việt Nam.
Nghị định quy định cụ thể nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng: thẩm định an ninh mạng; đánh giá điều kiện an ninh mạng; kiểm tra an ninh mạng; giám sát an ninh mạng; ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng; sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng; yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật, tin giả trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;
Theo Nghị định, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng phải tuân thủ quy định của Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Các biện pháp bảo vệ an ninh mạng chỉ được áp dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; chỉ được thực hiện sau khi có quyết định phê duyệt bằng văn bản của người có thẩm quyền.
Đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm duy trì việc đáp ứng điều kiện an ninh mạng trong suốt quá trình quản lý, vận hành, khai thác hệ thống. Hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được đánh giá đủ điều kiện an ninh mạng khi đáp ứng các yêu cầu. Trong đó:
Có biện pháp quản lý, kiểm tra, kiểm soát việc kết nối, sử dụng, vận chuyển, lưu trữ, sửa chữa, tiêu hủy thiết bị công nghệ thông tin, phương tiện truyền thông, vật mang tin, thiết bị di động, thiết bị và phương tiện lưu trữ thông tin phục vụ hoạt động của hệ thống thông tin;
Có biện pháp kỹ thuật để giám sát, phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn, xử lý nguy cơ, sự cố an ninh mạng; tách biệt môi trường vận hành chính thức với môi trường phát triển, kiểm tra, thử nghiệm; kiểm soát việc cài đặt, sử dụng phần mềm, dịch vụ, công cụ, phương tiện trên hệ thống;
Có phương án sao lưu dự phòng dữ liệu, kiểm tra khả năng khôi phục dữ liệu; phân vùng mạng theo đối tượng sử dụng, mục đích sử dụng, mức độ quan trọng của tài nguyên hệ thống; kiểm soát kết nối, kiểm soát truy cập giữa các vùng mạng và tài nguyên quan trọng của hệ thống.
Một nội dung đáng chú ý là yêu cầu về kiến thức, kỹ năng chuyên sâu đối với nhân sự làm công tác an ninh mạng. Theo đó, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và lực lượng bảo vệ an ninh mạng phải đáp ứng các tiêu chí:
Đã được đào tạo từ đại học trở lên chuyên ngành an ninh mạng;
Đã được đào tạo từ đại học trở lên các ngành về công nghệ thông tin hoặc ngành gần đào tạo về công nghệ thông tin và có chứng chỉ chuyên môn về an ninh mạng;
Đã được đào tạo từ đại học trở lên các ngành về công nghệ thông tin hoặc ngành gần đào tạo về công nghệ thông tin và có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm công tác bảo vệ an ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;
Đã được đào tạo từ đại học trở lên các ngành về công nghệ thông tin hoặc ngành gần đào tạo về công nghệ thông tin và được tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng.
Người trực tiếp quản trị, vận hành hệ thống thông tin cấp độ 3, cấp độ 4 và cấp độ 5 trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước phải được tập huấn kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về an ninh mạng và được cấp chứng nhận, trừ trường hợp đã được đào tạo chuyên ngành an ninh mạng.
Nghị định yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước rà soát nhân sự thuộc diện phải đáp ứng yêu cầu chuyên môn, bố trí kinh phí và tổ chức tập huấn trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực. Đối với người trực tiếp quản trị, vận hành hệ thống thông tin cấp độ 3, cấp độ 4 và cấp độ 5, thời hạn hoàn thành việc rà soát, bố trí kinh phí, tổ chức tập huấn trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành...
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026./.
XEM TOÀN VĂN NGHỊ ĐỊNH TẠI ĐÂY
Lượt xem: 30