Kiểm toán nhà nước
State audit office of VietNam
(sav.gov.vn) - Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường hướng tới giảm mạnh đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, đẩy mạnh phân cấp cho địa phương, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tăng cường giám sát ô nhiễm bằng công nghệ số.

Sáng 24/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội làm việc tại hội trường nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng, trình bày Tờ trình dự án Luật, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết việc xây dựng, trình Quốc hội xem xét ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới đã tạo cơ sở chính trị trực tiếp, quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về BVMT.
Dự thảo Luật được bố cục gồm 3 điều, trong đó sửa đổi, bổ sung 78/171 điều, trong đó bổ sung mới 3 điều với 5 nội dung chủ yếu.
Về cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, Dự thảo Luật cắt giảm đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và đối tượng phải có giấy phép môi trường; đơn giản hóa hồ sơ, nội dung và trình tự thực hiện; chuyển một số đối tượng sang đăng ký môi trường. Thực hiện thẩm định đánh giá tác động môi trường, cấp và điều chỉnh giấy phép môi trường trên môi trường điện tử trực tuyến. Trong đó, quy định nguyên tắc phân định thẩm quyền thẩm định đánh giá tác động môi trường theo mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường và tính chất đặc thù của dự án; tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương.
Đối với nội dung tăng cường quản trị môi trường dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và mức độ rủi ro, Dự thảo Luật đã quy định tiếp cận quản trị môi trường dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; yêu cầu doanh nghiệp tạo lập, cập nhật dữ liệu điện tử. Bổ sung cơ chế giám sát nguy cơ ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường dựa trên thông tin, dữ liệu công nghệ số và đánh giá tại hiện trường nhằm nhận diện sớm, cảnh báo và phòng ngừa rủi ro. Tăng cường dự báo, cảnh báo ô nhiễm môi trường. Bổ sung quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng mang lại lợi ích về môi trường.

Đặc biệt, Dự thảo luật đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng chất thải, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và chính sách mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất. Dự thảo Luật bổ sung quy định nguyên tắc tổ chức phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân và giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện; quy định trách nhiệm cập nhật dữ liệu về phát sinh, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý. Sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý chất thải nhằm thúc đẩy tái chế, tái sử dụng chất thải và quản lý vật liệu tái chế, thu hồi từ chất thải; giao Chính phủ quy định lộ trình tái chế trong sản phẩm, hàng hóa.
Đối với trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, dự thảo Luật không quy định hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, giao Chính phủ quy định hình thức khác phù hợp để bảo đảm trách nhiệm thu gom, tái chế thực chất của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu.
Về nội dung quản lý chất lượng môi trường. Dự thảo Luật hoàn thiện cơ chế quản lý chất lượng môi trường không khí, môi trường nước theo khả năng chịu tải. Bổ sung quy định về dự báo, tăng cường kiểm kê khí thải, thiết lập vùng phát thải thấp.
Dự thảo luật cũng tập trung hoàn thiện quy định ứng phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể, Dự thảo Luật chuyển từ giảm nhẹ sang quản lý phát thải khí nhà kính. Hoàn thiện quy định về phân bổ hạn ngạch phát thải, trách nhiệm thực hiện mục tiêu đóng góp do quốc gia tự quyết định. Bổ sung quy định về thị trường carbon trong nước, quản lý tín chỉ và sàn giao dịch carbon, thu gom, tái chế, tái sử dụng, xử lý các chất thải được kiểm soát.
Theo Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường do Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải trình bày cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết sửa đổi dự án luật; hồ sơ đã được chuẩn bị đầy đủ, công phu, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét.
Tuy nhiên, đề nghị tiếp tục rà soát để thể chế hóa đầy đủ nội dung của Kết luận số 75 đối với nội dung về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) với mô hình kinh doanh xanh, tuần hoàn; yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.

Đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm toàn bộ về tính khả thi, minh bạch đối với các chính sách mới được đề xuất trong luật; bảo đảm không tạo ra khoảng trống hoặc điểm nghẽn mới làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực, cản trở, ách tắc khi triển khai.
Với các nội dung cụ thể, về phân loại dự án và đánh giá tác động môi trường: Báo cáo nêu rõ, thực tiễn cho thấy việc phân loại dự án và thủ tục đánh giá tác động môi trường hiện nay chưa tương ứng với mức độ rủi ro, làm tăng chi phí của dự án ít nguy cơ. Ủy ban tán thành chủ trương phân loại dự án theo mức độ rủi ro (thu gọn lại còn 03 nhóm) và mở rộng một số trường hợp không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường ĐTM. Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục phải đi cùng với phân loại rủi ro chính xác, định lượng các yếu tố nhạy cảm và hậu kiểm hiệu quả. Đề nghị đánh giá thận trọng khi bỏ các yếu tố nhạy cảm về môi trường như khu dân cư tập trung, nguồn nước cấp sinh hoạt và tiêu chí loại hình, quy mô của nguồn thải đối với sức khỏe cộng đồng. Đề nghị không đưa các dự án thứ cấp trong khu/cụm công nghiệp khi có nguồn thải lớn, chất thải độc hại hoặc nhập khẩu phế liệu vào diện miễn ĐTM, qua đó vừa giảm thủ tục cho dự án rủi ro thấp vừa kiểm soát chặt dự án rủi ro cao.
Về giấy phép môi trường và đăng ký môi trường. Dự thảo đã sửa theo hướng đơn giản hóa và tăng cường sử dụng phương thức điện tử. Tuy nhiên, đề nghị chuyển từ tư duy cấp giấy phép xả thải sang cấp giấy phép vận hành môi trường. Giấy phép phải quy định rõ nghĩa vụ, điều kiện phát thải, vận hành công trình bảo vệ môi trường, quan trắc tự động và quản lý rủi ro. Thực hiện 100% thủ tục trên môi trường điện tử và không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại dữ liệu đã được xác thực trên hệ thống quốc gia. Cách tiếp cận này sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, chuyển trọng tâm từ kiểm tra hồ sơ sang giảm thiểu rủi ro.
Về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì. Báo cáo cho biết, thực tiễn cho thấy hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường chưa thúc đẩy hệ thống thu gom, tái chế thực chất; dự thảo đã bỏ hình thức này và đề xuất nhiều hình thức tái chế mới. Tuy nhiên, để tránh gây khó khăn cho doanh nghiệp khi hạ tầng tái chế chưa đáp ứng, đề nghị quy định rõ lộ trình hoặc cho phép bù trừ nghĩa vụ giữa các sản phẩm cùng nhóm.

Về phân loại chất thải rắn sinh hoạt. Báo cáo nêu rõ, thực tế cho thấy quy định này chưa thực hiện hiệu quả trong thời gian qua. Phân loại rác tại nguồn chỉ hiệu quả khi việc phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý được tổ chức đồng bộ. Nếu người dân phân loại nhưng sau đó lại thu gom chung thì chính sách sẽ mất niềm tin và khó duy trì.
Dự thảo đã sửa quy định về nội dung này, tuy nhiên để khả thi, đề nghị bổ sung trách nhiệm riêng của từng đơn vị (thu gom, vận chuyển và cơ sở xử lý). Cho phép địa phương trước mắt áp dụng mô hình phân loại thành 2 nhóm (rác tái chế và rác khác) phù hợp với hạ tầng hiện có, hướng tới mục tiêu giảm chôn lấp, tăng tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng.
Về kiểm kê khí nhà kính, Ủy ban đề nghị đánh giá kỹ yêu cầu chuyển tần suất kiểm kê khí nhà kính từ 02 năm một lần sang hàng năm vì có thể làm tăng chi phí không cần thiết. Đề nghị sửa theo hướng quản lý dựa trên rủi ro: cơ sở phát thải lớn hoặc biến động mạnh sẽ thực hiện hàng năm; cơ sở có công nghệ phát thải ổn định giữ chu kỳ 02 năm nhưng phải báo cáo khi có biến động. Cách làm này giúp tập trung quản lý vào nguồn thải quan trọng, giảm chi phí tuân thủ đối với nhóm rủi ro thấp.
Về quan trắc và tính toàn vẹn của dữ liệu môi trường, thực tế đã xuất hiện hành vi can thiệp phần mềm làm sai lệch số liệu quan trắc gây thiệt hại lớn. Dự thảo Luật đã sửa để bảo đảm chặt chẽ hơn, tuy nhiên cần bổ sung quy định về quản lý toàn bộ chuỗi dữ liệu (không chỉ quản lý thiết bị và tổ chức quan trắc). Dữ liệu từ thiết bị đo đến hệ thống tiếp nhận phải có mã định danh, dấu thời gian và nhật ký điện tử; mọi thao tác chỉnh sửa phải được lưu vết, đảm bảo dữ liệu có độ tin cậy và giá trị pháp lý hậu kiểm để xử lý vi phạm. Hành vi can thiệp trái phép, xóa, làm sai lệch dữ liệu cần được xác định là một hành vi độc lập và có chế tài tương xứng, kể cả rút giấy phép hành nghề có thời hạn hoặc vĩnh viễn.
Lượt xem: 53