Đăng ký nhận tin
Thứ Hai, ngày 21/9/2026

Tài liệu giới thiệu nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15

Đang nạp audio...

TÀI LIỆU GIỚI THIỆU NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA

LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG SỐ 06/2022/QH15

Ngày 23/4/2026, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15. Luật Thi đua khen thưởng sửa đổi, bổ sung năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

1. Cơ sở chính trị, pháp lý

- Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 26/12/2024 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới là văn bản quan trọng nhất về công tác thi đua, khen thưởng hiện nay, Chỉ thị đã cụ thể hóa các quan điểm của Đảng nhằm khắc phục những hạn chế và tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác này, cụ thể: (i) Tổ chức phong trào thi đua phải hiệu quả, thiết thực, có chủ đề, mục tiêu, chỉ tiêu rõ ràng, hướng vào giải quyết các nhiệm vụ chính trị trọng tâm, các khâu yếu, việc khó; (ii) Phong trào thi đua phải sâu rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội, các tầng lớp nhân dân, trong đó lấy Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của phong trào; (iii) Đặc biệt chú trọng khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong đổi mới sáng tạo, bứt phá, có sáng kiến, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Nghị quyết 18 NQ/TW chỉ đạo giảm đầu mối, sáp nhập các tổ chức có chức năng, nhiệm vụ tương đồng. Điều này buộc các cơ quan làm công tác thi đua, khen phải rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ theo hướng tinh gọn hơn, tránh chồng chéo, trùng lắp. Bên cạnh đó, quá trình tinh gọn đi đôi với việc tăng cường phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước, thúc đẩy việc phân định rõ thẩm quyền khen thưởng, trách nhiệm của người đứng đầu, và đẩy mạnh khen thưởng tại chỗ, kịp thời ở cấp cơ sở.

- Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tiếp tục làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, trong đó yêu cầu công tác thi đua, khen thưởng phải linh hoạt, kịp thời để hỗ trợ cho cuộc sắp xếp, tinh gọn về tổ chức bộ máy của Đảng và Nhà nước.

- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong đó có nêu: “Kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương là tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, đánh giá thi đua, khen thưởng hằng năm”. Luật Thi đua khen thưởng sửa đổi lần này phải tạo cơ chế linh hoạt, phi truyền thống để khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong đổi mới sáng tạo, bứt phá, có sáng kiến, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Sự nhấn mạnh vào yếu tố "dám nghĩ, dám làm" đòi hỏi Luật không chỉ bó buộc trong quy trình tích lũy công trạng lâu dài, mà phải bổ sung các cơ chế linh hoạt, kịp thời tôn vinh thành tích đột phá, vượt trội.

- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

- Các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư: Kết luận số 192-KL/TW ngày 19/9/2025, Kết luận số 155-KL/TW về thực hiện pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp. Trong đó, đặt ra yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền mạnh hơn nữa trong công tác TĐKT. Điều này nhằm tăng tính linh hoạt, chủ động, tự chịu trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ, ngành, địa phương, theo đúng tinh thần "địa phương quyết định, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".

- Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Tại Điều 2 của Nghị quyết số 190/2025/QH15 quy định "Bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan; không để gián đoạn công tác quản lý nhà nước...". Trong đó, thành tích thi đua, khen thưởng của tập thể và cá nhân ở cơ quan cũ vẫn được kế thừa và tính liên tục để làm căn cứ xét khen thưởng ở cơ quan mới, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự ghi nhận quá trình cống hiến của cán bộ, công chức, viên chức; các hồ sơ, thủ tục đang trong quá trình xét duyệt khen thưởng của cơ quan bị sắp xếp sẽ được chuyển giao và tiếp tục xử lý tại cơ quan mới hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ.

- Kết luận của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại buổi làm việc về công tác thi đua, khen thưởng (Thông báo số 890/VPCTN-TĐKT ngày 15/8/2024 Văn phòng Chủ tịch nước), trong đó có nội dung kết luận cơ bản như sau: "Công tác thi đua, khen thưởng cần tiếp tục rà soát để sát với thực tế, tạo được không khí thi đua sôi nổi, khơi dậy niềm tin và tự hào trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân để nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao nhất, đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của đất nước. Đặc biệt, công tác khen thưởng phải thực chất, đúng người, đúng việc, có tính giáo dục, nêu gương, chú trọng khen thưởng người trực tiếp lao động, sản xuất, chiến đấu; tăng cường phát hiện các điển hình tiên tiến để tôn vinh, động viên kịp thời; nâng cao chất lượng công tác khen thưởng đi đôi với cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền gắn với việc nắm bắt dư luận xã hội về thi đua khen thưởng, là cơ sở để nhận định chính xác tình hình, kịp thời xử lý, giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, sự việc phát sinh, đón đầu trước các xu thế để chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác thi đua, khen thưởng thời gian tới.…..Chú trọng việc tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế…".

- Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.

2. Cơ sở thực tiễn

Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 15/6/2022; Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2024. Sau gần 02 năm triển khai thực hiện Luật với nhiều điểm mới và quy định cụ thể đã tạo thuận lợi, chuyển biến rõ nét, tích cực trong công tác thi đua, khen thưởng, phong trào thi đua đã đi vào thực chất, tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị cấp bách của đất nước, Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị; qua phong trào thi đua có nhiều tập thể là điển hình tiêu biểu, nhiều gương “người tốt, việc tốt” được tôn vinh, khen thưởng kịp thời tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng, đời sống xã hội; công tác khen thưởng “đúng người, đúng việc”; thủ tục hồ sơ được đơn giản hóa tối đa để tạo thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện công tác thi đua, khen thưởng. Tuy nhiên, trước những yêu cầu cấp bách từ thực tế đang diễn ra, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng cũng dần bộc lộ một số hạn chế, bất cập cả về nội dung và hình thức, thẩm quyền, đặc biệt là việc phân cấp, phân quyền và sắp xếp lại tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước. Do đó, việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung về thi đua, khen thưởng là hết sức cần thiết để những vấn đề còn vướng mắc, tạo hành lang, hoàn thiện cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi trong công tác thi đua, khen thưởng.

2.1. Một số quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc chung chung cần quy định rõ hơn

- Tiêu chuẩn “tổ chức đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh” cần được định lượng cụ thể để thuận lợi áp dụng; nguyên tắc khen thưởng “không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được” cần được quy định rõ để thống nhất áp dụng; công tác ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thi đua, khen thưởng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra…Cụ thể:

 - Tiêu chuẩn “tổ chức đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh” được áp dụng rộng rãi (tại 21 điểm, 6 khoản, 18 Điều) nhưng thiếu định lượng cụ thể để thuận lợi áp dụng. Nếu thay thế bằng tiêu chuẩn “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” thì rất khó đạt được do tỷ lệ xếp loại bị giới hạn (không quá 20%-25%). Việc này tạo điểm nghẽn pháp lý nghiêm trọng.

- Nguyên tắc “không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được” (điểm c khoản 2 Điều 5) có cách hiểu khác nhau trong thực tiễn, cần được quy định rõ hơn để thống nhất áp dụng.

- Công tác ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thi đua, khen thưởng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

2.2. Một số quy định của Luật còn chồng chéo, bất cập, có tính khả thi chưa cao hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, cần sửa đổi hoặc bãi bỏ

(1) Về tiêu chuẩn khen thưởng theo công trạng đối với cá nhân Tại điểm d khoản 1 Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng quy định một trong các tiêu chuẩn để tặng hoặc truy tặng Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh như sau: “Có 02 lần liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” hoặc có liên tục từ 02 năm trở lên được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong thời gian đó có ít nhất 02 sáng kiến được công nhận và áp dụng có hiệu quả trong phạm vi cơ sở hoặc có ít nhất 02 đề tài khoa học, đề án khoa học, công trình khoa học và công nghệ đã được nghiệm thu và áp dụng hiệu quả trong phạm vi cơ sở”. Theo quy định trên: Trường hợp danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” xét theo tiêu chuẩn đạt “Lao động tiên tiến” “Chiến sĩ tiên tiến” và có sáng kiến hoặc đề tài khoa học…… để tiếp tục đề nghị tặng Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh cần phải có 02 sáng kiến hoặc 02 đề tài khoa học…. Như vậy, trong 02 năm phải có 04 sáng kiến, rất khó đạt được.

(2) Về tiêu chuẩn khen thưởng theo công trạng đối với tập thể

Luật Thi đua, khen thưởng hiện hành quy định tiêu chuẩn khen thưởng theo công trạng đối với tập thể phải có liên tục từ 05 năm/10 năm trở lên…. đến thời điểm đề nghị được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành thì tỷ lệ đánh giá, xếp loại đối với tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ không quá 20% trong số tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ, do đó để một tập thể “có liên tục từ 05 năm/10 năm trở lên” được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hoặc đạt danh hiệu “Tập thể Lao động xuất sắc”, “Đơn vị Quyết thắng” là rất khó đạt được. Bên cạnh đó, việc áp dụng tỷ lệ giới hạn (không quá 20%-25%) của xếp loại công việc đối với tiêu chuẩn tích lũy công trạng lâu dài (5-10 năm) là không phù hợp và tạo ra điểm nghẽn pháp lý. Do vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung để động viên, khuyến khích tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhất là trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang đẩy mạnh sắp xếp, tinh gọn, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị hiện nay và giảm bớt sự ràng buộc vào tiêu chí "hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ" liên tục 5/10 năm.

(3) Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả; Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, có thay đổi về tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị (bỏ cấp huyện), dẫn tới có một số quy định về thẩm quyền khen thưởng, trách nhiệm đề nghị khen thưởng, tiêu chuẩn khen thưởng được quy định trong Luật Thi đua, khen thưởng cần phải sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 02 cấp sau sắp xếp và để tiêu chuẩn tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được thực hiện trên thực tế; cùng với đó việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong hệ thống chính trị theo các Kết luận, chỉ đạo của Đảng, đặc biệt là Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 và Kết luận số 192-KL/TW ngày 19/9/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền mạnh hơn nữa trong công tác thi đua, khen thưởng để tạo sự linh hoạt, chủ động, tự chịu trách nhiệm trong công tác thi đua, khen thưởng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ, ngành, địa phương; việc thể chế hóa các Nghị quyết trụ cột của Đảng vào Luật Thi đua, khen thưởng là yêu cầu cấp thiết, trong đó có Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia để tạo cơ sở pháp lý khen thưởng cho cá nhân, tập thể có thành tích trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số…; việc đồng bộ các hình thức khen thưởng của Đảng và chính quyền cần được nghiên cứu để đảm bảo thống nhất về thành tích và thẩm quyền khen thưởng trong hệ thống chính trị.

(4) Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2022, Luật có 96 Điều, với nhiều điểm mới đột phá, trong đó đã đẩy mạnh phân quyền cho Chính phủ quy định chi tiết 39 nội dung, phân cấp cho Bộ, ban, ngành, tỉnh quy định chi tiết 19 nội dung. Quá trình áp dụng Luật không phát sinh chồng lấn, giao thoa nhiệm vụ giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Việc phân cấp, phân quyền cụ thể, rõ ràng trong Luật Thi đua, khen thưởng đã tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện. Đồng thời nâng cao tính chủ động, sáng tạo, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm quản lý về nhà nước thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị, kịp thời khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2.3. Một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn cần được bổ sung mới trong Luật

- Cần bổ sung mở rộng thẩm quyền tặng Giấy khen cho Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có tư cách pháp nhân thuộc và trực thuộc cơ quan, đơn vị có tư cách pháp nhân thuộc và trực thuộc Bộ, ban, ngành (như các đơn vị ngành dọc cấp tỉnh: Bảo hiểm xã hội tỉnh, Thi hành án tỉnh...) để kịp thời động viên, khuyến khích các đơn vị có quy mô tổ chức lớn mà hiện tại chưa có thẩm quyền này.

- Các quy định hiện hành về thẩm quyền khen thưởng, thẩm quyền đề nghị khen thưởng và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua cần được điều chỉnh để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo các Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 60-NQ/TW của Đảng.

- Quy định về thẩm quyền khen thưởng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (Giấy khen, Chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến tại Khoản 2 Điều 80) không còn thực hiện được do việc bỏ cấp huyện. Sự gián đoạn này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cá nhân, tập thể vì các danh hiệu cơ sở là tiêu chuẩn đầu vào bắt buộc để xét khen thưởng cấp cao hơn. Cần sửa đổi Luật để chuyển giao thẩm quyền này (đã tạm thời chuyển cho Chủ tịch UBND cấp xã bằng Nghị định). Do đó, việc chuyển giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã là một giải pháp cấp bách để đảm bảo tính liên tục của hệ thống thi đua, khen thưởng sau khi sắp xếp bộ máy.

- Quy định Giám đốc Đại học Quốc gia được trình khen thưởng trực tiếp Thủ tướng Chính phủ (Điều 83) không còn phù hợp, cần bãi bỏ thẩm quyền này để thống nhất hệ thống.

- Phạm vi tổ chức chính trị - xã hội: Việc giải thích cụm từ “Bộ, ban, ngành, tỉnh” (khoản 5 Điều 3) bao gồm các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp có tổ chức đảng đoàn hoặc Đảng bộ khối các cơ quan trung ương đã không còn phù hợp. Các tổ chức đảng này đã được sắp xếp thuộc Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trung ương, buộc phải sửa đổi các điều liên quan để đồng bộ thẩm quyền khen thưởng.

- Danh hiệu cấp cơ sở: Tên danh hiệu Xã, phường, thị trấn tiêu biểu và tiêu chuẩn khen thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho công nhân, nông dân liên quan đến “phạm vi ảnh hưởng trong địa bàn cấp huyện” (Điều 29, Điều 73) cần phải được sửa đổi để phù hợp với mô hình chính quyền 02 cấp.

- Việc thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 44 NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 59 NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới là yêu cầu cấp thiết để tạo cơ sở pháp lý khen thưởng kịp thời cho các tập thể, cá nhân có thành tích trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

- Công tác ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thi đua, khen thưởng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, cần được Luật hóa để xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống quản lý hồ sơ điện tử.

- Cần nghiên cứu đồng bộ các hình thức khen thưởng của Đảng (hiện đang được quy định tại Hướng dẫn số 06-HD/TW ngày 09/6/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành điều lệ Đảng) và chính quyền để đảm bảo thống nhất về thành tích và thẩm quyền khen thưởng trong hệ thống chính trị.

Xuất phát từ các lý do nêu trên, việc xây dựng, trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, khen thưởng là cần thiết, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong thi đua, khen thưởng nhằm nâng cao tính chủ động, linh hoạt, tự chịu trách nhiệm trong thực hiện công tác thi đua, khen thưởng; kịp thời giải quyết những quy định chưa phù hợp về thẩm quyền khen thưởng, đề nghị khen thưởng, tiêu chuẩn khen thưởng sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW và các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng; khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực tiễn triển khai thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng, qua đó khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

II. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục đích ban hành Luật

a) Khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật hiện hành và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

b) Đơn giản hoá thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và tăng cường hiệu lực, hiệu quả, trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng.

 c) Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị, để công tác thi đua, khen thưởng đi vào thực chất, thực sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng Bộ, ngành, địa phương và của đất nước trong kỷ nguyên mới.

2. Quan điểm xây dựng Luật

a) Bảo đảm nội dung quy định phù hợp với Hiến pháp, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các quy định pháp luật có liên quan.

b) Thể chế đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là các chủ trương về tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, và khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đồng thời tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

c) Kế thừa các nội dung quy định tại Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022.

d) Việc xây dựng dự thảo Luật bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan.

III. BỐ CỤC, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT  

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng gồm 04 điều:

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng trong đó sửa đổi, bổ sung gồm 30 khoản tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về nguyên tắc khen thưởng, hiện vật khen thưởng, danh hiệu thi đua và tiêu chuẩn xét tặng.

Điều 2: Quy định về việc thay thế, bỏ từ, cụm từ và bãi bỏ một số điểm, khoản tại các điều khác.

Điều 3: Hiệu lực thi hành (có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, trường hợp quy định về mức độ đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên có sự thay đổi, Chính phủ quy định việc áp dụng các tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng quy định tại Luật Thi đua, khen thưởng sau khi thống nhất với các cơ quan Đảng ở trung ương).

Điều 4. Điều khoản chuyển tiếp.

IV. NHỮNG NỘI DUNG MỚI CỦA LUẬT

1. Sửa đổi, bổ sung nguyên tắc thi đua khen thưởng

Luật sửa đổi, bổ sung điểm c và điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Thi đua khen thưởng 2022, như sau: Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; thành tích đến đâu khen thưởng đến đó. Không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được, trừ khen thưởng công trạng.

Đây là điểm mới đáng chú ý, khắc phục được hạn chế trước đó của Luật Thi đua khen thưởng 2022 quy định “không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được”, không nêu loại trừ trường hợp khen thưởng công trạng, dẫn đến nhiều vướng mắc, bất cập cho trường hợp khen cao, vì phải lấy thành tích liên tục cho nhiều năm và phải đảm bảo điều kiện được khen khác.

Luật cũng quy định, chú trọng khen thưởng cá nhân, tập thể, hộ gia đình trực tiếp lao động, sản xuất, kinh doanh; cá nhân, tập thể công tác ở địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; cá nhân, tập thể có thành tích tiêu biểu mang lại hiệu quả thiết thực vì lợi ích chung, đi đầu trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

2. Sửa đổi, bổ sung quy định các loại hình khen thưởng

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 3 Điều 8 Luật Thi đua khen thưởng 2022, cụ thể như sau:

1. Khen thưởng công trạng là khen thưởng cho cá nhân, tập thể có quá trình phấn đấu liên tục, tích lũy nhiều thành tích, được ghi nhận thông qua việc tổng kết các phong trào thi đua thường xuyên và kết quả đánh giá, xếp loại hằng năm.

3. Khen thưởng phong trào thi đua theo chuyên đề là khen thưởng cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua theo chuyên đề do cấp có thẩm quyền phát động, chỉ đạo trong thời gian cụ thể. Khen thưởng chuyên đề là khen thưởng thành tích phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, Bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thời gian cụ thể.”

3. Sửa đổi, bổ sung quy định Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”; Danh hiệu chiến sĩ thi đua Bộ, ban, ngành, tỉnh; Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”

Sửa đổi, bổ sung Điều 21 Luật Thi đua khen thưởng 2022 như sau:

“1. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” để tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau đây:

a) Có thành tích xuất sắc tiêu biểu được lựa chọn trong số những cá nhân có 02 lần liên tục được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua Bộ, ban, ngành, tỉnh;

b) Có sáng kiến đã được áp dụng hiệu quả và có khả năng nhân rộng trong toàn quốc hoặc có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc.

2. Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh xem xét, công nhận hiệu quả và khả năng nhân rộng trong toàn quốc của sáng kiến; xem xét, công nhận phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.”

Sửa đổi, bổ sung Điều 22 về Danh hiệu chiến sĩ thi đua Bộ, ban, ngành, tỉnh:

1. Danh hiệu chiến sĩ thi đua Bộ, ban, ngành, tỉnh để tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau đây:

a) Có thành tích xuất sắc tiêu biểu được lựa chọn trong số những cá nhân có 03 lần liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”;

b) Có sáng kiến đã được áp dụng hiệu quả và có khả năng nhân rộng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quân hoặc toàn lực lượng Công an nhân dân.

2. Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh xem xét, công nhận hiệu quả và khả năng nhân rộng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh của sáng kiến; xem xét, công nhận phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, công nhận sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quân hoặc toàn lực lượng Công an nhân dân.”.

Sửa đổi, bổ sung Điều 23 Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”:

“1. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” để tặng cho cá nhân đạt một trong các tiêu chuẩn sau đây:

a) Được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;

b) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và có sáng kiến được cơ sở công nhận;

c) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

d) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được đơn vị công nhận.

2. Chính phủ quy định tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này.”.

4. Sửa đổi, bổ sung quy định Danh hiệu xã, phường, đặc khu tiêu biểu

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 như sau:

“1. Danh hiệu xã, phường, đặc khu tiêu biểu được xét tặng hằng năm cho xã, phường, đặc khu có thành tích tiêu biểu trong phong trào thi đua cấp tỉnh và đạt các tiêu chuẩn sau đây:

a) Thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được giao;

b) Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển;

c) Đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú;

d) Môi trường an toàn, thân thiện, cảnh quan sạch đẹp;

đ) Chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;

e) Sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của chính quyền địa phương.”.

Ngoài ra, Luật cũng sửa đổi, bổ sung quy định về tặng Kỷ niệm chương và thay thế một số cụm từ tại Luật Thi đua khen thưởng 2022.

 

Lượt xem: 36