Đăng ký nhận tin
Thứ Sáu, ngày 16/10/2026

Quy định mới về quản lý, sử dụng nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035

...

(sav.gov.vn) - Chính phủ ban hành Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

Nghị định gồm 7 chương, 54 điều nhằm cụ thể hóa chủ trương đầu tư Chương trình đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026. Điểm đáng chú ý là các nhiệm vụ phát triển nông thôn, giảm nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giáo dục, y tế, văn hóa được tổ chức trong một chương trình thống nhất, với cơ chế quản lý, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả chung.

Đối tượng áp dụng của nghị định gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị, các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia quản lý, tổ chức thực hiện hoặc thụ hưởng chính sách thuộc Chương trình

Phân cấp mạnh, bảo đảm sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu

Nghị định quy định chi tiết về mục tiêu, phạm vi, đối tượng, thời gian thực hiện; huy động, lồng ghép, phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn lực; cơ chế đặc thù; tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra; công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát và mô hình tổ chức quản lý Chương trình.

Theo đó, việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm thống nhất, đồng bộ, hiệu quả theo mục tiêu, phạm vi, đối tượng được Quốc hội quyết định. Nghị định nhấn mạnh yêu cầu phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương, đồng thời phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và gắn với khả năng cân đối nguồn lực, năng lực tổ chức thực hiện.

Việc đầu tư phải có trọng tâm, trọng điểm, tập trung nguồn lực thực hiện mục tiêu của Chương trình; ưu tiên ở mức cao nhất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vùng có nguy cơ thiên tai cao và các địa bàn, lĩnh vực cần ưu tiên theo quy định của cấp có thẩm quyền.

Đáng chú ý, Nghị định yêu cầu quản lý, sử dụng nguồn lực phải tuân thủ quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục tiêu, đối tượng hỗ trợ của Chương trình, không trùng lặp, chồng chéo về đối tượng, địa bàn, nội dung của chương trình, dự án, chính sách khác.

Về lĩnh vực văn hóa, Nghị định tập trung xây dựng con người Việt Nam có nhân cách, lối sống tốt đẹp; phát triển môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh và hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ; bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển văn học, nghệ thuật và công nghiệp văn hóa. Đồng thời, chú trọng chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa của người dân, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và quảng bá văn hóa Việt Nam.

Về huy động nguồn lực thực hiện Chương trình, Nghị định quy định đa dạng hóa các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, tín dụng chính sách xã hội, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân và các khoản tài trợ, viện trợ, đóng góp tự nguyện hợp pháp.

Trong đó, nguồn lực ngân sách nhà nước được bố trí trong kế hoạch tài chính 5 năm và dự toán ngân sách hằng năm; ưu tiên phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và bảo tồn văn hóa. Ngân sách địa phương được bố trí kinh phí phù hợp với khả năng cân đối và nhu cầu thực tế.

Đồng thời, Nghị định khuyến khích huy động vốn tín dụng ưu đãi, thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, liên kết sản xuất, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ; vận động các nguồn tài trợ, viện trợ và đóng góp tự nguyện để bổ sung nguồn lực thực hiện Chương trình theo quy định của pháp luật.

Đối với nguồn ngân sách nhà nước, Nghị định quy định nguyên tắc phân bổ ngân sách trung ương, bố trí ngân sách địa phương và sử dụng các nguồn vốn khác để thực hiện Chương trình. Việc phân bổ phải căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ, khả năng cân đối nguồn lực, điều kiện thực tế và kết quả thực hiện.

Nghị định cũng quy định cơ chế lồng ghép nguồn lực, trong đó yêu cầu xác định rõ phạm vi công việc, khối lượng, kinh phí và kết quả đầu ra của từng nguồn vốn; tránh bố trí, thanh toán, quyết toán trùng nguồn vốn, kinh phí cho cùng một khoản chi.

Việc quản lý và sử dụng kinh phí phải bảo đảm công khai, minh bạch, không thất thoát, lãng phí và tuân thủ quy định của pháp luật.

Tăng cường kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình

Một nội dung đáng chú ý của Nghị định là tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện Chương trình dựa trên hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu, dữ liệu và kết quả đầu ra.

Theo quy định, khung tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra gồm các nhóm chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo tồn và phát triển văn hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Kết quả thực hiện Chương trình được theo dõi, đánh giá định kỳ và theo giai đoạn, gắn với trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc cập nhật dữ liệu, xác nhận kết quả, báo cáo và giải trình về tình hình thực hiện. Cụ thể:

Đánh giá giai đoạn 2026-2030 bao gồm: đánh giá giữa kỳ thực hiện vào năm 2028, đánh giá kết thúc giai đoạn 05 năm thực hiện vào năm 2030; 

Đánh giá giai đoạn 2031 - 2035 bao gồm: đánh giá giữa kỳ thực hiện vào năm 2033; đánh giá kết thúc giai đoạn 10 năm thực hiện vào năm 2035;  

Đánh giá đột xuất thực hiện theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền. 

Nghị định cũng quy định cơ sở dữ liệu của Chương trình là hệ thống dữ liệu điện tử thống nhất, dùng chung cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình.

Về tổ chức thực hiện, Nghị định xác định rõ trách nhiệm của các Bộ, cơ quan trung ương và chính quyền địa phương; đồng thời yêu cầu không thành lập thêm tổ chức quản lý, điều phối riêng theo từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm bộ máy quản lý tinh gọn, thống nhất./.

Lượt xem: 88