(sav.gov.vn) - Chiều nay, (05/11), Báo Kiểm toán tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: "Kiểm toán khu công nghiệp, khu kinh tế: Nhận diện điểm nghẽn chính sách, khơi thông nguồn lực đầu tư". Báo Kiểm toán trân trọng giới thiệu nội dung Tọa đàm đến quý độc giả.
Tọa đàm có sự tham dự của 2 diễn giả:
Ông Nguyễn Thanh Hà - Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước (KTNN) chuyên ngành II
Ông Nguyễn Đức Kiên - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ.
MC Tiến Tú giới thiệu Tọa đàm.
Chào mừng quý vị và các bạn đang theo dõi chương trình Tọa đàm ngày hôm nay của chúng tôi với chủ đề: “Kiểm toán khu công nghiệp, khu kinh tế: Nhận diện điểm nghẽn chính sách – Khơi thông nguồn lực đầu tư”.
Thưa quý vị, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Để hiện thực hóa mục tiêu đầy thách thức này, việc khơi thông các nguồn lực đầu tư, đặc biệt là dòng vốn FDI và dòng vốn tư nhân đổ vào các khu kinh tế, khu công nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên, qua kiểm toán chuyên đề việc thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư tại khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp (KCN) giai đoạn 2022-2024 tại Bộ Tài chính và 8 địa phương, hàng loạt “điểm nghẽn” chính sách đã lộ diện. Những bất cập này không chỉ gây lãng phí nguồn lực đất đai, tài chính mà còn vô hình trung làm giảm sức hút của môi trường đầu tư Việt Nam.
Để cùng nhận diện các nút thắt và tìm giải pháp khơi thông nguồn lực đầu tư cho các địa phương, Báo Kiểm toán tổ chức Tọa đàm với chủ đề: “Kiểm toán khu công nghiệp, khu kinh tế: Nhận diện điểm nghẽn chính sách – Khơi thông nguồn lực đầu tư”.
Phát video minh họa Tọa đàm
MC: Vâng, thưa quý vị và các bạn, clip vừa rồi đã gợi mở một vấn đề: Bên cạnh những kết quả tích cực, việc thực hiện chính sách ưu đãi, đầu tư tại các KCN, KKT vẫn còn những bất cập cần được nhìn nhận và tháo gỡ. Để cùng nhận diện các nút thắt và tìm giải pháp khơi thông nguồn lực đầu tư cho các địa phương, chúng tôi xin mời quý vị và các bạn cùng theo dõi cuộc trò chuyện với các khách mời. Câu hỏi đầu tiên xin dành cho ông Nguyễn Thanh Hà.
MC hỏi ông Hà: Xin dành câu hỏi đầu tiên cho ông Hà. Bên cạnh những đóng góp tích cực của các KCN, KKT đối với nền kinh tế nói chung và địa phương nói riêng, qua kiểm toán, KTNN đã chỉ ra không ít hạn chế, bất cập trong công tác quản lý và phát triển các khu này. Ông có thể chia sẻ, đâu là những vấn đề nổi cộm nhất được phát hiện qua kiểm toán?
Ông Hà trả lời: Qua kết quả kiểm toán, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh những đóng góp tích cực của KKT, KCN vào thành tựu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra như: Chính sách về KKT, KCN chưa được quy định đồng bộ tại các văn bản do khung pháp lý mới chỉ dừng lại ở Nghị định, chưa có Luật KKT, KCN. Một số văn bản hướng dẫn theo quy định tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP chưa được các cơ quan chuyên môn ban hành đầy đủ, dẫn đến gây khó khăn trong quá trình thực thi, nhất là trong việc phát triển mô hình KCN mới như KCN chuyên ngành, KCN hỗ trợ, KCN dịch vụ… Việc đề xuất thành lập KKT, KCN còn dàn trải; thiếu định hướng trong việc thành lập mới. Ngành nghề thu hút chậm đổi mới theo chiều sâu, giá trị thu hút; 440/499 KCN đa ngành, hỗn hợp.
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về các cam kết, ràng buộc trong việc chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, dẫn đến tình trạng hầu hết các doanh nghiệp có chủ thể người Việt chưa được chuyển giao công nghệ.
Cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở, các thiết chế văn hóa, công trình thể thao, văn hóa, cơ sở giáo dục mầm non (ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp...) phục vụ người lao động trong KKT, KCN chưa đủ hấp dẫn.
Hiệu quả sử dụng đất chưa cao, hạ tầng trong và ngoài KCN chưa đồng bộ và việc thực thi chính sách của cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư còn chưa đảm bảo tính đầy đủ, và đồng bộ.
MC hỏi: Từ thực trạng đó, KTNN đã chỉ ra đâu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế này?
Ông Hà trả lời: Từ kết quả kiểm toán, chúng tôi đã phân tích các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế, trong đó, chúng tôi nhận định 3 nguyên nhân chủ yếu là:
Thứ nhất, chưa có Luật KKT, KCN do vậy hệ thống pháp luật KKT, KCN bị ràng buộc bời các Luật khác, dẫn đến gây khó khăn cho quá trình thực thi chính sách. Đồng thời, Hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư của KKT, KCN hiện nay thiếu hiệu quả để định hướng dòng đầu tư (khung chính sách khá dàn trải, chưa có trọng tâm, trọng điểm; chính sách ưu đãi đầu tư mới chỉ chú trọng đến các yếu tố đầu vào như vốn, lao động sử dụng... mà chưa trú trọng đến các yếu tố: công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị lan tỏa, đóng góp cho cộng đồng; kết quả đóng góp đầu ra của dự án đầu tư; tiến độ thực hiện dự án đầu tư...)
Thứ hai, thực thi chính sách của cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư còn chưa đảm bảo tính đầy đủ, đồng bộ như: Các địa phương thiếu chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối với người lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu kinh tế, thiếu sự liên kết đào tạo với các trường đại học, viện nghiên cứu. Công tác xây dựng, tổ chức thực hiện, điều chỉnh quy hoạch còn chậm, chưa bảo quát đầy đủ mục tiêu, chưa đảm bảo quy định.
Công tác xúc tiến đầu tư vào KKT, KCN còn dàn trải mang tính cục bộ, chưa được xây dựng đồng bộ, thống nhất với định hướng thu hút ngành, nghề ưu tiên. Còn tình trạng nhiều địa phương chưa ban hành Quy chế phối hợp giữa các sở, ban ngành của địa phương và Ban quản lý các KKT, KCN trong quản lý nhà nước về KKT, KCN dẫn đến việc phối hợp giữa Ban quản lý các KKT, KCN với các sở, ngành của địa phương trong thực tế còn chưa hiệu quả.
Các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc phối hợp quản lý, tham mưu các chế độ chính sách liên quan KCN như: Các thiết chế y tế, giáo dục, xã hội, văn hóa, thể thao chưa được đầu tư đồng bộ; chính sách về nhà ở công nhân, đầu tư hạ tầng ngoài hàng rào KCN chưa đảm bảo đồng bộ...
Bên cạnh đó, công tác phối hợp trong quản lý nhà nước về quản lý, kiểm tra, giám sát về đầu tư chưa được ban hành hoặc thực hiện chưa thường xuyên liên tục tại các đơn vị quản lý. Còn tình trạng chậm giải phóng mặt bằng, bàn giao đất, thời gian đầu tư hạ tầng của các KCN quá dài so với yêu cầu, dẫn đến sử dụng không hiệu quả tài nguyên đất. Cơ chế, chính sách chưa đồng bộ đã hạn chế vai trò và hiệu quả hoạt động của Ban quản lý các KCN với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp với KCN tại địa phương.
MC hỏi ông Kiên: Thưa ông Kiên, những hạn chế và bất cập trong quản lý KCN, KKT như ông Hà vừa chia sẻ đang tác động như thế nào đến môi trường đầu tư, cũng như khả năng thu hút các dự án chất lượng cao vào các khu vực này?
- Ông Kiên trả lời: Theo kết quả kiểm toán như sơ bộ mà anh Hà đã trao đổi, chúng ta thấy rằng:
Thứ nhất, việc thể chế của chúng ta còn chưa hoàn thiện ảnh hưởng đến việc thu hút và phát huy hiệu quả các KKT, KCN. Văn bản pháp quy cao nhất hiện nay đối với KKT, KCN là một nghị định của Chính phủ. Vì thế, bản thân chức năng, nhiệm vụ của ban quản lý KCN, khu chế xuất đã bị hạn chế.
Thứ hai, về nguồn nhân lực, chúng ta rất tự hào là có nguồn nhân lực dồi dào nhưng lại chưa qua đào tạo. Việc đào tạo lại chưa sát với nhu cầu của doanh nghiệp, dẫn đến khả năng sử dụng lao động tại chỗ trong KCN gặp khó khăn.
Khi gặp những vấn đề trên, các nhà đầu tư sẽ có tâm lý e ngại. Việc chọn KCN như thế dẫn đến tình trạng các tỉnh cạnh tranh với nhau và tạo ra mỗi tỉnh có một cơ chế bằng mọi giá thu hút được đầu tư.
Về vấn đề vùng kinh tế và an sinh xã hội, cả nước trước có 8 vùng, nay còn 6 vùng kinh tế, mỗi vùng có đặc thù khác nhau. Các KCN phải thể hiện được khả năng thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư theo định hướng của vùng đó. Quan trọng nhất là đa phần lực lượng lao động của chúng ta là con em từ nông thôn ra, thì phải thực hiện được chủ trương "ly nông bất ly hương" (có việc làm, có thu nhập nhưng không phải rời khỏi quê hương). Nếu nhìn thấy thành công của các KCN ở Đồng Nai, Bình Dương, Long An, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh là rất tốt.
Hiện nay, các vấn đề về an sinh xã hội, y tế, giáo dục và chăm sóc thanh thiếu niên, nhi đồng tại những khu vực này vẫn còn nhiều bất cập, thậm chí có thể xem là một “điểm nghẽn”. Một thực trạng đáng lo ngại là nhiều trẻ em phải ở lại quê nhà dưới sự chăm sóc của ông bà, trong khi cha mẹ đi làm ăn xa tại các KCN ở các tỉnh, thành phố khác. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, sự phát triển toàn diện của người lao động và gia đình họ, mà còn làm suy giảm tính bền vững của mô hình phát triển KKT, KCN. Về lâu dài, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến hiệu quả hoạt động của các KCN chưa được phát huy đầy đủ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng.
MC hỏi ông Nguyễn Đức Kiên: Thực tế cho thấy, chính sách ưu đãi đầu tư tại nhiều KCN, KKT hiện nay vẫn dựa khá nhiều vào quy mô vốn và lao động. Theo ông, cách tiếp cận này ảnh hưởng thế nào đến chất lượng dòng vốn, khả năng thu hút các dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và cần chuyển dịch tư duy thu hút đầu tư ra sao để khắc phục tình trạng này?
Ông Kiên trả lời: Chúng ta phải lưu ý, các KCN vẫn chưa phát huy được vai trò đối với kinh tế vùng. Nói kinh tế vùng thì phải hiểu bản chất là tạo ra sự liên kết, một hệ sinh thái trong phát triển chung. Thời gian đầu, chúng ta tổ chức xây dựng các KCN, KKT với những mục tiêu rất rõ ràng là huy động vốn, tạo việc làm, tạo được nguồn thu cho địa phương để góp phần cải thiện đời sống, kinh tế - xã hội của địa phương và đóng góp cho phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, chúng ta quên mất một điều là sau một thời gian phát triển, “lượng đổi thì chất đổi”, tức là khi đã đạt được những mục tiêu đó thì phải tiến thêm một bước nữa là chuyển giao công nghệ, phải có những doanh nghiệp hấp thụ được công nghệ mới và có những chính sách để ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp đưa công nghệ vào và sẵn sàng chuyển giao.
Chúng ta đã có Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học và Công nghệ, nhưng lại thiếu sự liên kết đồng bộ với Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân. Sự thiếu đồng bộ này khiến các chính sách chưa tạo được động lực đủ mạnh để hình thành những doanh nghiệp Việt Nam có đủ năng lực tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ, cũng như trở thành đối tác của các doanh nghiệp nước ngoài.
Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI thường đưa ra lý do rằng không có doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Vì vậy, họ tiếp tục chủ động tổ chức sản xuất, vận hành và khai thác công nghệ trong phạm vi của mình, trong khi mối liên kết với khu vực doanh nghiệp nội địa vẫn còn rất hạn chế.
Tính đến tháng 10/2026, khu vực doanh nghiệp FDI chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Con số này cho thấy chúng ta đã có những chính sách thu hút đầu tư tương đối hiệu quả, nhưng điều đáng quan ngại là vẫn chưa hình thành được một hệ sinh thái đủ mạnh để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nếu không sớm khắc phục điểm nghẽn này, đến năm 2030, dù quy mô sản xuất và xuất khẩu có thể tiếp tục tăng trưởng, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu dừng lại ở vai trò gia công, lắp ráp và cung cấp lao động cho các chuỗi sản xuất do doanh nghiệp nước ngoài dẫn dắt, khó có thể đáp ứng mục tiêu trở thành một nước công nghiệp có thu nhập trung bình cao.
MC: Thưa ông Hà, từ những phát hiện kiểm toán, KTNN đã đưa ra những kiến nghị cụ thể nào nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, KKT, đặc biệt là trong bối cảnh các địa phương đang vận hành mô hình chính quyền hai cấp hiện nay?
Hiện nay, chúng ta đều biết việc hoàn thiện thể chế được Ban chấp hành Trung ương Đảng đặt ra tại Kết luận số 18-KL/TW với 92 nhiệm vụ thuộc 12 nhóm nhiệm vụ cần thực hiện trong năm 2026 để đạt muc tiêu tăng trưởng 2 con số. Do vậy, thông qua kết quả kiểm toán, KTNN đã đưa ra các kiến nghị đi sâu vào việc hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý.
Cụ thể, chúng tôi đã kiến nghị Bộ Tài chính một số nội dung sau:
Khẩn trương báo cáo Chính phủ việc xây dựng khung pháp lý về KKT, KCN nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, đổi mới sáng tạo; nghiên cứu, tham mưu cho Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành theo hướng thống nhất chính sách ưu đãi trong phạm vi một KKT được quy hoạch tích hợp, không phân biệt theo ranh giới vùng, địa phương, hành chính.
Đặc biệt, tham mưu cho Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi Luật Đầu tư năm 2020 theo hướng tránh trùng lặp, giảm bớt thủ tục hành chính trong việc Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với các dự án đã được cấp chủ trương.
Khẩn trương xây dựng, ban hành các quy định theo trách nhiệm được Chính phủ giao tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP để tạo hành lang pháp lý trong quá trình thực hiện;
Rà soát, tổng hợp và báo cáo xin ý kiến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về 3 nhóm vấn đề khó khăn, bất cập liên quan nghị định Nghị định số 35/2022/NĐ-CP là khu lưu trú chuyên gia, tỷ lệ lấp đầy trong KCN và phân cấp quản lý cho Ban Quảng lý KKT, KCN. Đặc biệt là báo cáo Thủ tướng Chính phủ các bất cập và lỗ hổng chính sách liên quan đến điều kiện thành lập KCN.
Báo cáo Thủ tướng Chính phủ rà soát các thủ tục về môi trường, cắt giảm thủ tục hành chính về xây dựng. Đặc biệt, xem xét ban hành các quy định về việc cam kết, ràng buộc đi kèm với khuyến khích, ưu đãi về chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp nước ngoài cho các tổ chức, doanh nghiệp trong nước khi có hoạt động đầu tư vào thị trường Việt Nam đảm bảo phù hợp Nghị quyết số 50-NQ/TW.
MC hỏi ông Hà: Bên cạnh các kiến nghị xử lý cụ thể như ông vừa trao đổi, KTNN khuyến nghị gì đối với các cơ quan có thẩm quyền trong việc hoàn thiện thể chế, chẳng hạn như việc nghiên cứu, ban hành Luật Khu công nghiệp, khu kinh tế?
Ông Hà trả lời: Thực tế các kiến nghị của KTNN đã đi sâu vào việc hoàn thiện thể chế, trong đó chủ yếu liên quan việc xây dựng khung pháp lý về KKT, KCN nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ, thúc đẩy, phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, đổi mới sáng tạo. Quan trọng ở đây là tạo ra hành lang pháp lý, còn việc có ban hành Luật KKT, KCN riêng hay là lồng ghép việc này phụ thuộc vào quá trình tổng kết đánh giá tính khả thi trong công tác xây dựng và ban hành văn bản của Bộ chuyên ngành.
MC hỏi ông Kiên: Liên quan đến những kiến nghị của KTNN, ông có chia sẻ gì thêm?
Ông Kiên trả lời: Chúng ta phải pháp điển hóa những ưu đãi và mục tiêu đặt ra đối với KCN và KKT. Trong đó, trọng tâm tập trung vào hai hướng: Một là các chính sách ưu đãi, hai là tổ chức cơ cấu bộ máy của ban quản lý KCN đó. Ban quản lý này có thể được coi như một ủy ban nhân dân thu nhỏ với toàn quyền quyết định về quy hoạch đường chuyền, mục tiêu đề ra và điều quan trọng nhất là KKT hay KCN sẽ không bị lệ thuộc vào địa giới hành chính. Do hiện nay đơn vị hành chính đi từ cấp xã lên thẳng cấp tỉnh, nếu chúng ta không thể chế hóa lại trong bối cảnh chính quyền hai cấp thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đó là vấn đề thứ nhất.
Vấn đề thứ hai cần pháp điển hóa là quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm. Các doanh nghiệp khi được vào KCN và nhận ưu đãi thì phải làm rõ trách nhiệm của mình. Trách nhiệm đó bao gồm trách nhiệm về công nghệ, trách nhiệm đầu tư và giải ngân vốn đúng cam kết, cũng như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với địa phương và người lao động.
Thứ ba mới là thuế. Thuế thì doanh nghiệp không thể trốn tránh được. Tuy nhiên, về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nếu vấn đề này bị bỏ qua, người lao động sẽ không được hưởng quyền lợi, ốm đau không được trả tiền, con cái không được đi học và đây là nhóm vấn đề cần được quan tâm trong quá trình pháp điển hóa.
Vấn đề thứ tư là phải nghiêm túc thực hiện quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kinh tế tại mỗi khu vực – chẳng hạn như Hải Phòng hay Quảng Ninh – cần có sự chuyển dịch phù hợp. Quảng Ninh hiện nay không còn là khu công nghiệp khai thác than truyền thống (nâu và đen) nữa, mà phải chuyển sang các khu công nghiệp công nghệ cao, tận dụng triệt để lợi thế về logistics. Ưu đãi cho khu công nghiệp tại Quảng Ninh lúc này không dành cho các nhà máy chế tạo thiết bị đào than hay cơ khí Cẩm Phả quy mô lớn như trước, mà hướng tới các doanh nghiệp, nhà đầu tư ứng dụng công nghệ mới vào việc khai thác và chế biến than hầm lò. Hay tại Móng Cái, khi xây dựng khu kinh tế cửa khẩu, mục tiêu không chỉ là tăng cường giao lưu kinh tế vùng biên mà còn phải đi sâu vào nội địa để khai thác tiềm năng. Do đó, cần có chính sách ưu đãi rất rõ ràng về thuế và hỗ trợ chi phí logistics cho những doanh nghiệp đưa hàng vượt sâu qua biên giới vào nội địa nhưng vẫn đặt trụ sở tại vùng biên.
Vấn đề thứ tư là phải nghiêm túc thực hiện quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kinh tế tại mỗi khu vực – chẳng hạn như Hải Phòng hay Quảng Ninh – cần có sự chuyển dịch phù hợp. Quảng Ninh hiện nay không còn KCN khai thác than truyền thống (nâu và đen) nữa, mà phải chuyển sang các KCN công nghệ cao, tận dụng triệt để lợi thế về logistics. Ưu đãi cho KCN tại Quảng Ninh lúc này không dành cho các nhà máy chế tạo thiết bị đào than hay cơ khí Cẩm Phả quy mô lớn như trước, mà hướng tới các doanh nghiệp, nhà đầu tư ứng dụng công nghệ mới vào việc khai thác và chế biến than hầm lò. Hay tại Móng Cái, khi xây dựng KKT cửa khẩu, mục tiêu không chỉ là tăng cường giao lưu kinh tế vùng biên mà còn phải đi sâu vào nội địa để khai thác tiềm năng. Do đó, cần có chính sách ưu đãi rất rõ ràng về thuế và hỗ trợ chi phí logistics cho những doanh nghiệp đưa hàng vượt sâu qua biên giới vào nội địa nhưng vẫn đặt trụ sở tại vùng biên.
Vấn đề quan trọng thứ năm, như ý kiến của anh Hà, là vấn đề chỗ ở cho người lao động và chuyên gia. Trong đó, chúng ta cần phân loại rõ sự đan xen giữa bất động sản công nghiệp và bất động sản dân sinh. Bất động sản dân sinh bao gồm nhiều phân khúc: Lớp thứ nhất thu hút nhóm lao động trẻ từ độ tuổi 20 (không tính tuổi 18 vì vừa tốt nghiệp phổ thông chưa qua đào tạo) đến 35 tuổi. Đây là tệp lao động đã qua đào tạo từ 18 tháng đến 2 năm, chưa có gia đình hay con cái, nên có nhu cầu về nhà ở riêng. Lớp thứ hai là độ tuổi từ 35 đến 55 với nhu cầu nhà ở đi kèm các tiện ích về y tế, trường học và khu vui chơi cho trẻ em. Lớp thứ ba là tệp người trên 60 tuổi (độ tuổi nghỉ hưu), có nhu cầu ở gần bệnh viện và không gian giao lưu văn hóa.
Hiện nay, mô hình gia đình ngày càng thu nhỏ, chỉ còn hai ông bà sống cùng nhau. Do đó, chúng ta cần phát triển các phân khúc bất động sản phù hợp để hỗ trợ. Điều này không chỉ giúp phát triển bất động sản dân sinh mà còn hỗ trợ cho sự phát triển của các KCN. Khi có đầy đủ hạ tầng, các chuyên gia mới yên tâm sinh sống và làm việc tại đó. Không ai muốn bị ép vào ở một vùng quê quạnh quẽ, nơi mà muốn mua bất cứ thứ gì cũng phải di chuyển mấy chục cây số ra thành phố hay thị xã. Sau khi nghiên cứu và phân tích năm nhóm vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng nếu được cụ thể hóa, điều này sẽ tạo ra một động lực mới trong tình hình mới.
MC hỏi ông Kiên: Thưa ông, Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt yêu cầu đẩy nhanh chuyển đổi KCN, KKT, khu công nghệ cao theo hướng sinh thái, thông minh, chuyên ngành. Định hướng này đặt ra những yêu cầu nào đối với công tác quy hoạch, tiêu chí lựa chọn dự án và hạ tầng phát triển để vừa thúc đẩy đổi mới công nghệ, vừa bảo đảm sự phát triển bền vững của các KCN, KKT, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư?
Ông Nguyễn Đức Kiên: Để bảo đảm sự phát triển bền vững của các KCN, KKT và nâng cao chất lượng đầu tư, bên cạnh Nghị quyết số 10-NQ/TW, cần cần đặt trong tổng thể cùng Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
Dưới góc nhìn của những người nghiên cứu kinh tế, đây chính là thế "kiềng ba chân" vững chắc của nền kinh tế Việt Nam. Đúng như ông Hà đã kiến nghị: Khi doanh nghiệp vào KCN, bất kể là doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, chỉ cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn đề ra thì đều bình đẳng tiếp cận.
Điều cốt lõi ở đây là phải hình thành được một hệ sinh thái đồng bộ trong KCN.
Nhìn lại một ví dụ rất điển hình là Bắc Ninh, địa phương vừa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và là trung tâm công nghiệp điện, điện tử lớn của miền Bắc. Ban đầu là Tập đoàn Canon, tiếp đó là Samsung đầu tư vào đây. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là các KCN đó chứa được bao nhiêu doanh nghiệp phụ trợ nằm trong hệ sinh thái sản phẩm của Samsung?
Tôi vẫn nhớ năm 2012, tôi cùng Bộ trưởng Bùi Quang Vinh và Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Hiếu chủ trì cuộc tọa đàm tại khách sạn Daewoo với sự tham gia của khoảng 150 doanh nghiệp Việt Nam về việc tham gia chuỗi cung ứng cho Samsung. Kết quả là chỉ có 3 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn để tham gia vào chuỗi cung ứng vật tư của họ.
Gốc rễ vấn đề nằm ở chỗ: Nếu doanh nghiệp nội địa không đủ năng lực công nghệ thì rất khó tiếp quản chuỗi giá trị. Đơn cử như công nghệ quang học trên camera hay ống kính điện thoại của Samsung hiện nay có tổng độ dày chỉ 7mm. Các bo mạch nền (platform) không còn là công nghệ phíp nhựa của những năm 1970, mà đã nâng lên tầm công nghệ bột kim loại ép từng lớp. Trình độ công nghệ thế giới đã đi rất xa. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam nào đủ tiềm lực tài chính và năng lực kỹ thuật thì phải chủ động đặt vấn đề tiếp nhận chuyển giao công nghệ, hoặc đưa ra tiêu chuẩn để chúng ta làm và bán lại cho họ. Quyền lợi thu hút phải luôn đi liền với trách nhiệm nâng chuẩn doanh nghiệp Việt.
Bên cạnh đó, ông Hà có đề cập rất nhanh về vấn đề nhà ở cho công nhân. Thực tế, nếu đến Samsung vào buổi sáng, chúng ta sẽ thấy hàng trăm lượt xe đưa đón công nhân di chuyển liên tục từ Lạng Sơn và các tỉnh lân cận về nhà máy. Bài học rút ra là: Khi hạ tầng giao thông kết nối được đầu tư đồng bộ, công nhân không nhất thiết phải ở ngay sát vách KCN.
Lúc này, nhà đầu tư nước ngoài không còn hỏi: "Chính quyền hỗ trợ chỗ ở cách nhà máy bao nhiêu kilômét?", mà họ hỏi: "Chính quyền hỗ trợ giải pháp di chuyển để người lao động đến nhà máy mất bao nhiêu phút?". Sự chuyển dịch tư duy từ "khoảng cách địa lý" (kilômét) sang "thời gian di chuyển" (tối đa 30 phút) có ý nghĩa rất lớn: Giúp người lao động giảm mệt mỏi, tái tạo sức lao động và có thể bắt tay vào ca làm việc với hiệu suất cao nhất.
Hoàn thiện hạ tầng kết nối hạ tầng vùng và hạ tầng logistics là trách nhiệm của Chính phủ. Làm tốt hạ tầng cũng chính là hình thức ưu đãi cạnh tranh nhất, thiết thực nhất dành cho các nhà đầu tư trong các KCN, khu kinh tế hiện nay.
MC: Một câu hỏi cuối xin dành cho cả hai vị khách mời: Đâu là vấn đề cần ưu tiên tháo gỡ ngay để KCN, KKT không chỉ là nơi thu hút nguồn lực, mà thực sự trở thành động lực bứt phá tăng trưởng, đổi mới công nghệ và phát triển bền vững trong giai đoạn tới?
Ông Hà trả lời: Để các KKT và KCN thực sự chuyển mình từ việc "thu hút nguồn lực theo chiều rộng" sang "động lực bứt phá tăng trưởng, đổi mới công nghệ và phát triển bền vững" trong giai đoạn tới, chúng ta cần ưu tiên tháo gỡ ngay 4 nút thắt:
Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý cấp cao và bịt kín các "lỗ hổng" trong thành lập, thẩm định các dự án mới. Sửa đổi ngay các tiêu chí, định lượng về hồ sơ hợp lệ, tỷ lệ lấp đầy thực tế và kiểm soát chặt chẽ năng lực tài chính, tổng mức đầu tư của các chủ hạ tầng ngay từ khâu thẩm định.
Thứ hai, chuyển đổi mô hình phát triển từ "Đa ngành, diện rộng" sang "Chuyên môn hóa, công nghệ cao và sinh thái".
Thứ ba, khơi thông điểm nghẽn về đất đai, giải phóng mặt bằng và đồng bộ hóa hạ tầng xã hội - kỹ thuật. Ông Kiên đã nói rất rõ và rất quan tâm về hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào KCN. Cái cần tháo gỡ ngay là: Các địa phương phải kiên quyết rà soát, xử lý hoặc thu hồi đối với các dự án hạ tầng KCN và dự án thứ cấp chậm tiến độ, kéo dài, "xí phần" nhưng không đưa đất vào sử dụng theo đúng quy định Luật Đất đai 2024.
Trung ương và các địa phương cần ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư công trung hạn, hoàn thiện dứt điểm hạ tầng kết nối ngoài hàng rào, trạm xử lý nước thải chuẩn hóa và quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân để bảo đảm sự phát triển bền vững.
Thứ tư, đổi mới thực chất cơ chế phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu lực mô hình của Ban Quản lý KCN. Phải có một hệ thống cơ sở dữ liệu số thông minh liên thông giữa các ngành: Ban Quản lý, cơ quan thuế, kho bạc và các cơ quan chuyên môn để minh bạch hóa quá trình quản lý, thực thi chính sách, nghĩa vụ tài chính và giám sát dự án.
Ông Kiên trả lời: Ngoài 4 vấn đề như ông Hà nói, tôi chỉ nhấn thêm 2 vấn đề:
Một là, phải trao quyền chủ động cho các địa phương để phát huy hết được tính năng động, sáng tạo của từng địa phương. Qua đấy, người ta mới đánh giá được là đâu là địa phương năng động. Vẫn bộ máy đấy nhưng hằng tuần, từ Sở Tài chính, Thuế, rồi đến Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng ngồi lại với Ban Quản lý KCN để giải quyết từng vấn đề một. Đấy là cái chủ động để tạo điều kiện cho cán bộ phát huy được cái năng lực của mình.
Hai là, trong bối cảnh này, vấn đề đặt ra phải có cơ chế bảo vệ cán bộ trong quá trình tổ chức thực thi. Hiện nay, chúng ta đã có Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, nhưng trên thực tế, còn rất nhiều luật có hiệu lực pháp lý cao hơn nghị định này. Nếu một cán bộ trong quá trình thực thi công vụ lựa chọn và áp dụng quy định pháp luật theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp thì không nên chỉ đánh giá quyết định đó dựa trên số thu ngân sách trước mắt. Có thể tại thời điểm hiện tại, việc áp dụng chính sách đó chưa thu được nhiều thuế, nhưng sau ba năm, chính sách đó có thể giúp doanh nghiệp hình thành chu trình sản xuất ổn định, tạo ra doanh thu, việc làm, thu nhập cho người lao động và đóng góp nguồn thu thuế thường xuyên, bền vững cho Nhà nước.
Nếu cán bộ thực hiện công việc với động cơ trong sáng, không có vụ lợi cá nhân, không gây phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp và không vi phạm pháp luật, thì phải có cơ chế ghi nhận, khuyến khích và bảo vệ họ trước những rủi ro pháp lý phát sinh từ việc thực thi chính sách vì lợi ích chung. Đây chính là điều kiện quan trọng để khuyến khích cán bộ chủ động tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, mạnh dạn đổi mới trong thực thi công vụ và đồng hành cùng sự phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Vấn đề thứ hai cần pháp điển hóa là quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm. Các doanh nghiệp khi được vào KCN và nhận ưu đãi thì phải làm rõ trách nhiệm của mình. Trách nhiệm đó bao gồm trách nhiệm về công nghệ, trách nhiệm đầu tư và giải ngân vốn đúng cam kết, cũng như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với địa phương và người lao động.
Cuối cùng mới đến vấn đề thuế. Thuế thì doanh nghiệp không thể trốn tránh được - năm nay chưa đòi được thì năm sau sẽ đòi. Tuy nhiên, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nếu bỏ qua năm nay là mất trắng, người lao động sẽ không được hưởng quyền lợi, ốm đau không được trả tiền, con cái không được đi học, và đây là nhóm vấn đề thứ ba cần được quan tâm trong quá trình pháp điển hóa.
Vấn đề thứ tư là phải nghiêm túc thực hiện quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kinh tế tại mỗi khu vực – chẳng hạn như Hải Phòng hay Quảng Ninh – cần có sự chuyển dịch phù hợp. Quảng Ninh hiện nay không còn là khu công nghiệp khai thác than truyền thống (nâu và đen) nữa, mà phải chuyển sang các khu công nghiệp công nghệ cao, tận dụng triệt để lợi thế về logistics. Ưu đãi cho khu công nghiệp tại Quảng Ninh lúc này không dành cho các nhà máy chế tạo thiết bị đào than hay cơ khí Cẩm Phả quy mô lớn như trước, mà hướng tới các doanh nghiệp, nhà đầu tư ứng dụng công nghệ mới vào việc khai thác và chế biến than hầm lò. Hay tại Móng Cái, khi xây dựng khu kinh tế cửa khẩu, mục tiêu không chỉ là tăng cường giao lưu kinh tế vùng biên mà còn phải đi sâu vào nội địa để khai thác tiềm năng. Do đó, cần có chính sách ưu đãi rất rõ ràng về thuế và hỗ trợ chi phí logistics cho những doanh nghiệp đưa hàng vượt sâu qua biên giới vào nội địa nhưng vẫn đặt trụ sở tại vùng biên.
Vấn đề quan trọng thứ năm, như ý kiến của anh Hà, là vấn đề chỗ ở cho người lao động và chuyên gia. Trong đó, chúng ta cần phân loại rõ sự đan xen giữa bất động sản công nghiệp và bất động sản dân sinh. Bất động sản dân sinh bao gồm nhiều phân khúc: lớp thứ nhất thu hút nhóm lao động trẻ từ độ tuổi 20 (không tính tuổi 18 vì vừa tốt nghiệp phổ thông chưa qua đào tạo) đến 35 tuổi. Đây là tệp lao động đã qua đào tạo từ 18 tháng đến 2 năm, chưa có gia đình hay con cái, nên có nhu cầu về nhà ở riêng. Lớp thứ hai là độ tuổi từ 35 đến 55 với nhu cầu nhà ở đi kèm các tiện ích về y tế, trường học và khu vui chơi cho trẻ em. Lớp thứ ba là tệp người trên 60 tuổi (độ tuổi nghỉ hưu), có nhu cầu ở gần bệnh viện và không gian giao lưu văn hóa.
Hiện nay, mô hình gia đình ngày càng thu nhỏ, chỉ còn hai ông bà sống cùng nhau. Do đó, chúng ta cần phát triển các phân khúc bất động sản phù hợp để hỗ trợ. Điều này không chỉ giúp phát triển bất động sản dân sinh mà còn hỗ trợ cho sự phát triển của các khu công nghiệp.
Khi có đầy đủ hạ tầng, các chuyên gia mới yên tâm sinh sống và làm việc tại đó. Không ai muốn bị ép vào ở một vùng quê quạnh quẽ, nơi mà muốn mua bất cứ thứ gì cũng phải di chuyển mấy chục cây số ra thành phố hay thị xã.
Sau khi nghiên cứu và phân tích năm nhóm vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng nếu được cụ thể hóa, đây sẽ tạo ra một động lực mới trong tình hình mới.
Vấn đề thứ hai cần pháp điển hóa là quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm. Các doanh nghiệp khi được vào KCN và nhận ưu đãi thì phải làm rõ trách nhiệm của mình. Trách nhiệm đó bao gồm trách nhiệm về công nghệ, trách nhiệm đầu tư và giải ngân vốn đúng cam kết, cũng như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với địa phương và người lao động.
Cuối cùng mới đến vấn đề thuế. Thuế thì doanh nghiệp không thể trốn tránh được - năm nay chưa đòi được thì năm sau sẽ đòi. Tuy nhiên, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nếu bỏ qua năm nay là mất trắng, người lao động sẽ không được hưởng quyền lợi, ốm đau không được trả tiền, con cái không được đi học, và đây là nhóm vấn đề thứ ba cần được quan tâm trong quá trình pháp điển hóa.
Vấn đề thứ tư là phải nghiêm túc thực hiện quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kinh tế tại mỗi khu vực – chẳng hạn như Hải Phòng hay Quảng Ninh – cần có sự chuyển dịch phù hợp. Quảng Ninh hiện nay không còn là khu công nghiệp khai thác than truyền thống (nâu và đen) nữa, mà phải chuyển sang các khu công nghiệp công nghệ cao, tận dụng triệt để lợi thế về logistics. Ưu đãi cho khu công nghiệp tại Quảng Ninh lúc này không dành cho các nhà máy chế tạo thiết bị đào than hay cơ khí Cẩm Phả quy mô lớn như trước, mà hướng tới các doanh nghiệp, nhà đầu tư ứng dụng công nghệ mới vào việc khai thác và chế biến than hầm lò. Hay tại Móng Cái, khi xây dựng khu kinh tế cửa khẩu, mục tiêu không chỉ là tăng cường giao lưu kinh tế vùng biên mà còn phải đi sâu vào nội địa để khai thác tiềm năng. Do đó, cần có chính sách ưu đãi rất rõ ràng về thuế và hỗ trợ chi phí logistics cho những doanh nghiệp đưa hàng vượt sâu qua biên giới vào nội địa nhưng vẫn đặt trụ sở tại vùng biên.
Vấn đề quan trọng thứ năm, như ý kiến của anh Hà, là vấn đề chỗ ở cho người lao động và chuyên gia. Trong đó, chúng ta cần phân loại rõ sự đan xen giữa bất động sản công nghiệp và bất động sản dân sinh. Bất động sản dân sinh bao gồm nhiều phân khúc: lớp thứ nhất thu hút nhóm lao động trẻ từ độ tuổi 20 (không tính tuổi 18 vì vừa tốt nghiệp phổ thông chưa qua đào tạo) đến 35 tuổi. Đây là tệp lao động đã qua đào tạo từ 18 tháng đến 2 năm, chưa có gia đình hay con cái, nên có nhu cầu về nhà ở riêng. Lớp thứ hai là độ tuổi từ 35 đến 55 với nhu cầu nhà ở đi kèm các tiện ích về y tế, trường học và khu vui chơi cho trẻ em. Lớp thứ ba là tệp người trên 60 tuổi (độ tuổi nghỉ hưu), có nhu cầu ở gần bệnh viện và không gian giao lưu văn hóa.
Hiện nay, mô hình gia đình ngày càng thu nhỏ, chỉ còn hai ông bà sống cùng nhau. Do đó, chúng ta cần phát triển các phân khúc bất động sản phù hợp để hỗ trợ. Điều này không chỉ giúp phát triển bất động sản dân sinh mà còn hỗ trợ cho sự phát triển của các khu công nghiệp.
Khi có đầy đủ hạ tầng, các chuyên gia mới yên tâm sinh sống và làm việc tại đó. Không ai muốn bị ép vào ở một vùng quê quạnh quẽ, nơi mà muốn mua bất cứ thứ gì cũng phải di chuyển mấy chục cây số ra thành phố hay thị xã.
Sau khi nghiên cứu và phân tích năm nhóm vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng nếu được cụ thể hóa, đây sẽ tạo ra một động lực mới trong tình hình mới.
Vấn đề thứ hai cần pháp điển hóa là quyền lợi phải đi đôi với trách nhiệm. Các doanh nghiệp khi được vào KCN và nhận ưu đãi thì phải làm rõ trách nhiệm của mình. Trách nhiệm đó bao gồm trách nhiệm về công nghệ, trách nhiệm đầu tư và giải ngân vốn đúng cam kết, cũng như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với địa phương và người lao động.
Cuối cùng mới đến vấn đề thuế. Thuế thì doanh nghiệp không thể trốn tránh được - năm nay chưa đòi được thì năm sau sẽ đòi. Tuy nhiên, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nếu bỏ qua năm nay là mất trắng, người lao động sẽ không được hưởng quyền lợi, ốm đau không được trả tiền, con cái không được đi học, và đây là nhóm vấn đề thứ ba cần được quan tâm trong quá trình pháp điển hóa.
Vấn đề thứ tư là phải nghiêm túc thực hiện quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kinh tế tại mỗi khu vực – chẳng hạn như Hải Phòng hay Quảng Ninh – cần có sự chuyển dịch phù hợp. Quảng Ninh hiện nay không còn là khu công nghiệp khai thác than truyền thống (nâu và đen) nữa, mà phải chuyển sang các khu công nghiệp công nghệ cao, tận dụng triệt để lợi thế về logistics. Ưu đãi cho khu công nghiệp tại Quảng Ninh lúc này không dành cho các nhà máy chế tạo thiết bị đào than hay cơ khí Cẩm Phả quy mô lớn như trước, mà hướng tới các doanh nghiệp, nhà đầu tư ứng dụng công nghệ mới vào việc khai thác và chế biến than hầm lò. Hay tại Móng Cái, khi xây dựng khu kinh tế cửa khẩu, mục tiêu không chỉ là tăng cường giao lưu kinh tế vùng biên mà còn phải đi sâu vào nội địa để khai thác tiềm năng. Do đó, cần có chính sách ưu đãi rất rõ ràng về thuế và hỗ trợ chi phí logistics cho những doanh nghiệp đưa hàng vượt sâu qua biên giới vào nội địa nhưng vẫn đặt trụ sở tại vùng biên.
Vấn đề quan trọng thứ năm, như ý kiến của anh Hà, là vấn đề chỗ ở cho người lao động và chuyên gia. Trong đó, chúng ta cần phân loại rõ sự đan xen giữa bất động sản công nghiệp và bất động sản dân sinh. Bất động sản dân sinh bao gồm nhiều phân khúc: lớp thứ nhất thu hút nhóm lao động trẻ từ độ tuổi 20 (không tính tuổi 18 vì vừa tốt nghiệp phổ thông chưa qua đào tạo) đến 35 tuổi. Đây là tệp lao động đã qua đào tạo từ 18 tháng đến 2 năm, chưa có gia đình hay con cái, nên có nhu cầu về nhà ở riêng. Lớp thứ hai là độ tuổi từ 35 đến 55 với nhu cầu nhà ở đi kèm các tiện ích về y tế, trường học và khu vui chơi cho trẻ em. Lớp thứ ba là tệp người trên 60 tuổi (độ tuổi nghỉ hưu), có nhu cầu ở gần bệnh viện và không gian giao lưu văn hóa.
Hiện nay, mô hình gia đình ngày càng thu nhỏ, chỉ còn hai ông bà sống cùng nhau. Do đó, chúng ta cần phát triển các phân khúc bất động sản phù hợp để hỗ trợ. Điều này không chỉ giúp phát triển bất động sản dân sinh mà còn hỗ trợ cho sự phát triển của các khu công nghiệp.
Khi có đầy đủ hạ tầng, các chuyên gia mới yên tâm sinh sống và làm việc tại đó. Không ai muốn bị ép vào ở một vùng quê quạnh quẽ, nơi mà muốn mua bất cứ thứ gì cũng phải di chuyển mấy chục cây số ra thành phố hay thị xã.
Sau khi nghiên cứu và phân tích năm nhóm vấn đề nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng nếu được cụ thể hóa, đây sẽ tạo ra một động lực mới trong tình hình mới.
MC: Vâng. Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của hai vị khách mời. Có thể thấy, trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về quy mô và chất lượng tăng trưởng, việc hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư đối với các KKT, KCN không chỉ là yêu cầu cấp thiết trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Những phát hiện và kiến nghị từ cuộc kiểm toán chuyên đề của KTNN sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý và địa phương rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện chính sách, thiết kế các cơ chế phù hợp, qua đó khơi thông nguồn lực, tạo động lực thúc đẩy các KKT, KCN phát triển mạnh mẽ, bền vững, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời đã tham gia chương trình! Xin chào và hẹn gặp lại./.
Lượt xem: 169