Ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn xác định hành vi lãng phí trong tố tụng hình sự

12/01/2026
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In trang Google

(sav.gov.vn) - Nhằm thống nhất việc xác định hành vi lãng phí để áp dụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí, ngày 10/12/2025, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao cùng các bộ, ngành liên quan, trong đó có Kiểm toán nhà nước, đã ban hành Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP.

Thông tư liên tịch số 11/2025 gồm 3 Chương, 14 Điều, được ban hành trên cơ sở Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự và các luật có liên quan, nhằm hướng dẫn việc xác định hành vi lãng phí để áp dụng thống nhất trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự liên quan đến lãng phí theo quy định của pháp luật hình sự.
 
Chương I: Những quy định chung; Chương II: Quy định cụ thể; Chương III: Điều khoản thi hành.
 
Theo Thông tư, phạm vi điều chỉnh bao gồm nguyên tắc, nội dung và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác định hành vi lãng phí. Đối tượng áp dụng là các cơ quan, người tiến hành tố tụng; cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, tổ chức giám định, định giá, cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình phối hợp xác định lãng phí.
 
Việc phối hợp xác định hành vi lãng phí phải bảo đảm tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự và các quy định pháp luật có liên quan; bảo đảm tính khách quan, thận trọng, chặt chẽ, thống nhất; đồng thời thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và bảo mật thông tin trong quá trình xác định lãng phí.
 
Thông tư quy định rõ nguồn thông tin, tài liệu để xác định hành vi lãng phí, bao gồm chứng cứ, tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập; kết luận giám định, định giá tài sản; ý kiến của cơ quan chuyên môn; kết luận của cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và các nguồn thông tin, tài liệu khác theo quy định của pháp luật.
 
Dấu hiệu vi phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công có khả năng gây lãng phí
 
Đáng chú ý, Thông tư dành một chương quy định cụ thể các dấu hiệu vi phạm có khả năng gây lãng phí trong từng lĩnh vực. Cụ thể, trong lĩnh vực lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, các dấu hiệu vi phạm được xác định thông qua hành vi chỉ đạo, tổ chức thực hiện trái quy định pháp luật; thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý; bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng quy định đối với hành vi vi phạm gây lãng phí.
 
Trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, các dấu hiệu vi phạm có thể căn cứ vào việc lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, giao dự toán không đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung; sử dụng ngân sách không đúng mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức; quyết toán chi ngân sách không đúng thời hạn, thủ tục; quản lý, sử dụng các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước không đúng quy định; thực hiện các khoản vay, cho vay, tạm ứng, góp vốn trái quy định, vượt khả năng cân đối ngân sách gây lãng phí.
 
Đối với quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công, Thông tư nêu rõ các dấu hiệu như quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; quyết định đầu tư không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; tổ chức thẩm định, định giá, lựa chọn nhà thầu không đúng quy định; đầu tư, mua sắm vượt tiêu chuẩn, định mức; chậm giải ngân, chậm quyết toán vốn đầu tư; thiếu trách nhiệm trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản công dẫn đến lãng phí.
 
Trong lĩnh vực quản lý, khai thác, sử dụng đất đai và các tài nguyên khác, hành vi lãng phí được xác định thông qua các dấu hiệu vi phạm về quy hoạch; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất không đúng quy định; chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; để đất không sử dụng trong thời gian dài; chậm giải phóng mặt bằng; thực hiện dự án không đúng tiến độ; cấp phép, thăm dò, khai thác tài nguyên không đúng quy định, gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên.
 
Thông tư cũng quy định các dấu hiệu vi phạm trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và vốn nhà nước đầu tư ra nước ngoài, bao gồm việc quyết định chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án không đúng thẩm quyền, không phù hợp quy hoạch; quản lý, sử dụng vốn nhà nước không đúng mục đích, kém hiệu quả; thiếu trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước, người quản lý doanh nghiệp dẫn đến lãng phí tài sản nhà nước.
 
Xác định hậu quả lãng phí không qua trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản
 
Thông tư hướng dẫn việc thực hiện thông qua trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản hoặc xác định không qua trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản trong trường hợp không cần thiết.
 
Cụ thể, hậu quả lãng phí có thể được xác định bằng số tiền thực tế đã sử dụng vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; hoặc bằng diện tích thực tế xây dựng vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ hoặc suất vốn đầu tư.
 
Thông tư nêu rõ ví dụ: Trong quá trình xây dựng Trụ sở Cơ quan B, Chủ đầu tư cố ý xây dựng vượt tiêu chuẩn, định mức trụ sở theo quy định của Chính phủ là 3.000 m² dẫn đến toàn bộ diện tích 3.000 m² trên không được đưa vào sử dụng. Suất vốn đầu tư đã được phê duyệt là 15.000.000 đồng/01 m².
 
Trong trường hợp này, hậu quả lãng phí sẽ được tính bằng 3.000 m² x 15.000.000 đồng/01 m² = 45.000.000.000 đồng;
 
 Hậu quả lãng phí bằng số tiền tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo quy định trong thời gian tài sản không được đưa vào sử dụng do hành vi cố ý, sai phạm của đơn vị quản lý, sử dụng.
 
Ví dụ: Cơ quan B (đơn vị sự nghiệp công lập) triển khai thực hiện Trạm dừng nghỉ đã khánh thành kỹ thuật, đưa vào hoạt động vào năm 2023, với nguyên giá của tài sản cố định hình thành từ Dự án đầu tư là 300.000.000.000 đồng. Theo quy định, Cơ quan B phải thực hiện chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản đối với Trạm dừng nghỉ với tỷ lệ hao mòn 2,5%/năm. Do lỗi cố ý của Cơ quan B, Trạm dừng nghỉ đã ngừng hoạt động từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024.
 
Theo quy định của pháp luật, số tiền tính hao mòn tài sản là 300.000.000.000 đồng x 2,5%/năm = 7.500.000.000 đồng. Đây được xác định là hậu quả lãng phí;
 
Hậu quả lãng phí bằng số tiền từ nguồn vốn nhà nước đã đầu tư xây dựng công trình nhân với trung bình lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các Ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình, dự án dừng thi công do lỗi cố ý thực hiện các hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện Dự án.
 
Ví dụ: Dự án đầu tư công của Bộ A có tổng mức đầu tư 10.000.000.000.000 đồng, thời gian thực hiện dự án ban đầu từ năm 2014 đến năm 2017 và được gia hạn đến hết năm 2020. Dự án chưa có hồ sơ thiết kế cơ sở, lập dự toán, chưa đủ điều kiện để triển khai theo quy định của pháp luật nhưng Bộ A đã tổ chức đấu thầu lựa chọn Nhà thầu xây lắp và tiến hành thi công. Tổng số tiền từ nguồn vốn nhà nước đã giải ngân là 5.000.000.000.000 đồng. Sau đó, Dự án đã ngừng thi công trong khoảng thời gian từ 01/01/2021 đến 31/12/2024 do hành vi sai phạm nêu trên.
 
Hậu quả lãng phí trong trường hợp này được tính trên cơ sở trung bình lãi suất tiền gửi VND có kỳ hạn 01 tháng của 04 Ngân hàng (Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank) trong khoảng thời gian ngừng thi công từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2024 trên tổng số tiền 5.000.000.000.000 đồng đã giải ngân.
 
Số tiền lãng phí là 5.000.000.000.000 đồng x 4 năm x 1,5%/năm = 300.000.000.000 đồng;
 
Hậu quả lãng phí bằng tổng chi phí đã bỏ ra để thi công, xây dựng và chi phí tháo dỡ, phục hồi hiện trạng ban đầu khi công trình đó không đảm bảo mục tiêu đầu tư do lỗi cố ý, vi phạm của Chủ đầu tư trong quá trình triển khai dự án.
 
Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh X là Chủ đầu tư thực hiện Dự án công trình dẫn nước sạch về bản Y. Do lỗi cố ý vi phạm, gian dối trong quá trình khảo sát thực tế, xây dựng báo cáo kinh tế kỹ thuật của Dự án, sau khi hoàn thành công trình không thể kết nối, đưa nước về bản Y theo mục tiêu ban đầu dẫn đến phải tháo bỏ toàn bộ công trình. Tổng số tiền thực tế đã đầu tư vào công trình là 500.000.000 đồng; chi phí tháo dỡ công trình là 200.000.000 đồng.
 
Hậu quả lãng phí được xác định là tổng số tiền đã đầu tư và chi phí tháo dỡ là 500.000.000 đồng + 200.000.000 đồng = 700.000.000 đồng.
 
Trách nhiệm phối hợp
 
Thông tư quy định cụ thể trách nhiệm phối hợp của các cơ quan trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự. Theo đó, cơ quan điều tra có trách nhiệm thu thập đầy đủ chứng cứ, tài liệu để xác định hậu quả lãng phí; cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm kịp thời cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; phối hợp trao đổi, đánh giá để làm rõ hành vi và hậu quả lãng phí.
 
Thông tư liên tịch số 11/2025 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/01/2026. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Kiểm toán nhà nước và Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện; trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, kịp thời phản ánh để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền./.
 
Thảo Chi

Xem thêm »