(sav.gov.vn) - Ngày 23/3/2026, Tổng Kiểm toán nhà nước Ngô Văn Tuấn đã ký Quyết định số 371/QĐ-KTNN về ban hành Quy chế xây dựng và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý của Kiểm toán nhà nước (KTNN); đồng thời quy định định mức khoán chi cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.

Kiểm toán nhà nước ban hành Quy chế xây dựng và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý của KTNN; quy định định mức khoán chi cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.
Quyết định được ban hành trên cơ sở các quy định của Luật KTNN năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và các văn bản pháp luật liên quan; cùng với các nghị định của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 220/QĐ-KTNN ngày 02/3/2023 của Tổng Kiểm toán nhà nước về ban hành Quy chế soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý của KTNN.
Quy chế gồm 05 Chương và 52 Điều, quy định toàn diện về công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật do Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành hoặc liên tịch ban hành, từ lập chương trình xây dựng văn bản đến tổ chức thi hành, kiểm tra, rà soát và bảo đảm nguồn lực thực hiện; đồng thời hướng dẫn việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quản lý trong toàn ngành.
Quy chế cũng quy định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, bao gồm các đơn vị trực thuộc KTNN, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc soạn thảo, thẩm định, ban hành và tổ chức thi hành văn bản; cũng như các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí cho các nhiệm vụ xây dựng văn bản và tổ chức thi hành pháp luật.
Đáng chú ý, Quy chế xác định các nguyên tắc trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quy định về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản; cũng như yêu cầu về tổ chức thi hành pháp luật. Đồng thời, việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc biệt trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật được triển khai theo các nghị quyết, nghị định của Quốc hội và Chính phủ (Điều 3 của Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật và Điều 2 của Nghị định số 289/2025/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2025 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật).
Một trong những nội dung trọng tâm của Quy chế là quy định chặt chẽ việc lập và thực hiện chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hằng năm. Theo đó, chương trình phải xác định rõ danh mục văn bản, sự cần thiết ban hành, phạm vi điều chỉnh, đơn vị chủ trì, phối hợp và tiến độ thực hiện. Quy trình lập, điều chỉnh chương trình được quy định cụ thể, bảo đảm tính linh hoạt nhưng vẫn chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ phát sinh. Vai trò của Vụ Pháp chế được nhấn mạnh trong việc hướng dẫn, tổng hợp, theo dõi và đôn đốc thực hiện chương trình.
Đối với công tác soạn thảo, Quy chế quy định rõ trách nhiệm của đơn vị chủ trì, việc thành lập tổ soạn thảo trong trường hợp cần thiết, cũng như nhiệm vụ của tổ soạn thảo từ xây dựng đề cương, dự thảo văn bản đến hoàn thiện hồ sơ trình. Việc lấy ý kiến được thực hiện công khai, minh bạch, với yêu cầu đăng tải dự thảo trên Cổng Thông tin điện tử trong thời gian tối thiểu theo quy định, đồng thời lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan nhằm bảo đảm tính khả thi và đồng thuận của văn bản.
Công tác thẩm định được coi là khâu quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng văn bản. Quy chế quy định dự thảo văn bản phải được thẩm định trước khi trình ký ban hành, với các nội dung thẩm định bao gồm sự cần thiết ban hành, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, sự phù hợp với chủ trương của Đảng, cũng như các điều kiện bảo đảm thi hành. Hình thức thẩm định linh hoạt, có thể thông qua hội đồng thẩm định, họp thẩm định hoặc lấy ý kiến bằng văn bản, bảo đảm tính khách quan, khoa học và hiệu quả.
Quy chế cũng quy định cụ thể về trình tự trình ký, ban hành văn bản, yêu cầu hồ sơ đầy đủ, chặt chẽ, được rà soát kỹ trước khi ban hành. Sau khi ban hành, văn bản phải được đăng Công báo, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của KTNN trong thời hạn quy định, bảo đảm tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận của các tổ chức, cá nhân.
Đáng chú ý, Quy chế dành một chương quy định về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó làm rõ các nội dung như hướng dẫn áp dụng, theo dõi thi hành, kiểm tra, xử lý văn bản; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; hợp nhất, pháp điển, rà soát, hệ thống hóa văn bản. Các quy định này góp phần bảo đảm văn bản sau khi ban hành được triển khai hiệu quả trong thực tiễn, đồng thời kịp thời phát hiện, xử lý những bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó, Quy chế cũng quy định riêng về công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quản lý của KTNN, với quy trình cơ bản tương tự văn bản quy phạm pháp luật nhưng được điều chỉnh phù hợp với đặc thù quản lý nội bộ ngành. Việc lấy ý kiến, thẩm định, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quản lý được quy định rõ ràng, bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong điều hành.
Một điểm mới quan trọng là Quy chế quy định cụ thể chế độ chi cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, bao gồm danh mục nhiệm vụ, hoạt động và định mức khoán chi cho từng nội dung. Quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý, sử dụng kinh phí, đồng thời tạo điều kiện bảo đảm nguồn lực cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật trong toàn ngành.
Việc ban hành Quy chế có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn hóa, đồng bộ hóa quy trình xây dựng và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật của KTNN; nâng cao chất lượng văn bản, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kiểm toán. Qua đó, góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới./.
Thảo Chi
File đính kèm: